Page 1

TRIỄN LÃM BẢO TỒN VĂN HÓA TẠI LĂNG TỰ ĐỨC BẢO TỒN VÀ TRÙNG TU CÔNG TRÌNH BỬU THÀNH MÔN VÀ BÌNH PHONG KHU MỘ VUA


Những kết quả hợp tác bảo tồn Di sản văn hóa Việt Nam Triễn lãm „Bảo tồn Văn hóa tại lăng Tự Đức“ trình diễn tiến trình công tác bảo tồn, trùng tu công trình Bửu Thành Môn và Bình phong khu mộ vua. Dự án thí điểm cho các công trình tương tự này là một trong những điển hình của sự hợp tác Việt Nam – CHLB Đức về bảo tồn di sản văn hóa của đất nước. Hãy chiêm ngưỡng và cảm nhận nhóm Dự án Bảo tồn, Trùng tu và Đào tạo Đức (GCREP) đang bảo tồn, trùng tu di tích này một cách cẩn thận, cũng như đang nghiên cứu các loại vật liệu nguyên gốc và đào tạo nguồn nhân lực địa phương có chuyên môn trong lĩnh vực bảo tồn di tích như thế nào. Triễn lãm là một phần của chương trình Festival Huế 2010 và chương trình ‚Nước Đức ở Việt Nam 2010’ - kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao của hai nước.


1

Một giai đoạn mới cho sự hợp tác thành công

Trên toàn thế giới, các di sản văn hóa đang rất cần được bảo tồn. Không nước nào làm được việc này một mình. Chỉ bằng hợp tác mới có thể tăng cường chuyên môn và ngân sách. Đối với bảo tồn di sản văn hóa, hợp tác là rất quan trọng. Ở Việt Nam, khó khăn nhất trong công tác bảo tồn di tích lịch sử là thời tiết nhiệt đới và sự thiếu hụt các chuyên gia phục chế có chuyên môn.

Tuy nhiên, trong giai đoạn từ 2003-2008 một dự án gây chú ý ở đất nước này là việc kết hợp giữa bảo tồn thực nghiệm và chuyển giao công nghệ nhằm tạo ra một chiến lược dài hạn. Dự án bảo tồn và phục chế nội thất Cung An Định ở Huế được thực hiện bởi các chuyên gia bảo tồn Đức - một công trình thể hiện sự kết hợp độc đáo giữa phong cách truyền thống Việt Nam và Ba-rốc Châu Âu. Bên cạnh đó, họ đã đào tạo lý thuyết và thực hành về lĩnh vực bảo tồn cho các họa sĩ và nghệ nhân Việt Nam nhằm chuẩn bị cho những kế hoạch tương lai. Cũng như mở rộng nghiên cứu các chất liệu truyền thống để ứng dụng phương thức bảo tồn mới dưới điều kiện nóng ẩm vốn thích hợp với các loại vi khuẩn.

Dự án bảo tồn và trùng tu Cổng và Bình phong khu mộ vua lăng Tự Đức dựa trên cơ sở kết quả đạt được từ Dự án trùng tu và bảo tồn tranh tường tại Cung An Định, tuy nhiên vẫn còn một thách thức lớn. Đó là vấn đề bảo tồn kiến trúc truyền thống ngoài trời của Việt Nam và tránh những hư hại nặng hơn do thời tiết gây ra. Triển lãm này là một phần của chương trình kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa CHLB Đức và Việt Nam. Với chủ đề “Nước Đức ở Việt Nam 2010” nhiều sự kiện và hoạt động sẽ diễn ra làm nổi bật sự hợp tác thành công trên nhiều lĩnh vực về kinh tế, khoa học, giáo dục, môi trường và văn hóa hiện nay giữa hai nước.


Gìn giữ bản sắc dân tộc thông qua bảo tồn văn hóa

Việt Nam đang trên đà phát triển một cách nhanh chóng. Tốc độ phát triển kinh tế và việc mở rộng quan hệ với các nước phương Tây đặt ra những thách thức lớn cho xã hội. Do vậy, gìn giữ bản sắc dân tộc, bảo tồn các giá trị di sản vật thể và phi vật thể là rất quan trọng. Quá trình hiện đại hóa cần phải cân bằng với nền tảng bản sắc dân tộc ổn định. Huế là cố đô của Việt Nam và là thủ phủ của triều Nguyễn từ 1802-1945. Sau sự thoái vị của vị hoàng đế cuối cùng, chủ tịch Hồ Chí Minh đã có chủ trương bảo tồn các công trình thời phong kiến. Theo ông, đó là tài sản để lại của những người

dân bị ngược đãi và bóc lột tàn bạo khi buộc phải xây dựng cho giai cấp thống trị. Ông không thể lường trước sự tàn phá do chiến tranh Đông Dương với thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trong những thập niên tiếp theo và hệ thực vật hoang dã lặng lẽ phát triển nhanh chóng sẽ gây hư hại cho các công trình lịch sử như thế nào. Sự thật là việc triều đại kế sau đều phá hủy hoặc chôn vùi những cung điện của triều đại trước càng làm cho công tác bảo tồn các công trình kiến trúc như thế thêm ý nghĩa và quan trọng về mặt lịch sử. Một thời gian dài không đủ kinh phí cho việc này và đến ngày nay là thiếu các chuyên gia có chuyên môn.

Từ 1993 quần thể di tích Huế được Ủy ban Di sản thế giới UNESCO bảo vệ. Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế là cơ quan có trách nhiệm quản lý và bảo tồn các di tích đó. Cơ quan này nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, trong đó có Chương trình Bảo tồn Văn hóa của Bộ Ngoại giao CHLB Đức. Công tác bảo tồn được thực hiện đúng theo nguyên tắc của UNESCO và Hiến Chương quốc tế Venice 1964. Qua đó bảo tồn có nghĩa là gìn giữ cho thế hệ mai sau các giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật và lịch sử một cách rõ ràng. Bảo tồn phải dựa trên sự hiểu biết sâu sắc về các giá trị nghệ thuật và dừng lại khi chỉ dựa vào phỏng đoán.


Sức mạnh hợp tác quốc tế

Sáng kiến và nguồn tài chính cho Dự án bảo tồn và đào tạo tại lăng Tự Đức bắt nguồn từ Chương trình Bảo tồn Văn hóa do Bộ Ngoại giao CHLB Đức tài trợ. Từ năm 1981 chương trình này đã tài trợ công tác bảo tồn di sản văn hóa trên toàn thế giới – đặc biệt ở các nước đang phát triển. Điều này phát huy sự đối thoại giữa các nền văn hóa và là công cụ hiệu quả trong chính sách đối ngoại về văn hóa và giáo dục của CHLB Đức. Đại sứ quán CHLB Đức tại Hà nội có trách nhiệm quản lý các dự án tại địa phương. Quan hệ ngoại giao giữa CHLB Đức và Việt Nam đã thiết lập đến nay được 35 năm với sự hiểu biết và hợp tác song phương giữa hai nước phát triển mạnh mẽ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa.

Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế (HMCC) chịu trách nhiệm quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa thế giới tại Huế, bao gồm các dự án trọng điểm về bảo tồn và phục hồi quần thể di tích Huế. Tổ chức phi lợi nhuận “Hội Bảo tồn Di sản Văn hóa” (GEKE) với chức năng chủ yếu là quản lý các dự án. GEKE hỗ trợ nghiên cứu, phân tích, đào tạo và thực hành, tạo điều kiện cho cộng đồng tiếp cận với các di tích lịch sử và nâng cao nhận thức về các vấn đề di sản. Dự án Bảo tồn, Phục chế và Đào tạo Đức (GCREP) là một nhóm gồm các chuyên gia quốc tế về bảo tồn, phục chế và truyền thông. GCREP đã hợp tác mạnh mẽ với các đối tác để đạt được những thành

công lớn nhất trong dự án thí điểm bảo tồn và trùng tu nội thất Cung An Định từ 2003-2008. Nhóm theo đuổi bốn mục tiêu chính: – – – –

Thực hiện các phương pháp bảo tồn và trùng tu theo các nguyên tắc của UNESCO và ICCROM nhằm bảo tồn di sản văn hóa thế giới một cách phù hợp nhất. Đào tạo lý thuyết và thực hành về bảo tồn và phục chế cho các họa sĩ và nghệ nhân nhằm tạo nguồn nhân lực có chuyên môn tại địa phương. Nghiên cứu và tư liệu hóa các loại vật liệu nguyên gốc và kỹ thuật truyền thống để hỗ trợ các dự án bảo tồn trong tương lai. Tư liệu hóa, xuất bản và tổ chức triễn lãm công chúng nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng đối với các vấn đề về bảo tồn di sản văn hóa toàn cầu.


Nơi nỗi buồn mỉm cười và niềm vui bật khóc

Tự Đức là vị vua thứ 4 của Triều Nguyễn, có thời gian trị vì từ 1847-1883 lâu nhất so với những thành viên khác trong dòng tộc ông. Là một người nhu nhược, ông đã khiến đất nước rơi vào nhiều cuộc khủng hoảng. Tinh thần dân chúng bấy giờ ngày càng giảm sút bởi ông bất lực trước thiên tai, nạn đói, các quan thần xu nịnh và địa chủ quyền thế. Vì tùy tiện nhượng bộ và thiếu khả năng phán quyết chính trị, ông đã tiếp tay cho quá trình thôn tính Việt Nam của Pháp, khởi điểm từ thời cha ông – vua Thiệu Trị. Khi ông băng hà, toàn bộ đất nước rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp.

Tự Đức được xem là một nhà thẩm mỹ học tinh tế lúc ông chỉ mới 20 tuổi, khi cha ông chọn ông để trao ngai vàng thay vì người anh độc đoán của mình. Ông đam mê nghệ thuật, ca kịch và thơ văn – xa rời thực tế, cũng như không màng đến các vấn đề của đất nước. Là người trầm cảm, mê tín và tôn sùng Nho giáo ông tự thấy có tội với những nỗi khỗ của dân chúng. Thay vì cương quyết hành động, ông đã cự tuyệt thú đi săn yêu thích của mình, làm thơ tự phê phán, khẩn xin sự tha thứ trước bàn thờ tổ tiên. Ông cảm thấy cuộc sống của ông đáng nguyền rủa: không có con cái, mặc dù có 1 hoàng hậu và hơn 100 cung phi. Được xây dựng trong thời gian ông còn sống, nơi yên nghỉ cuối cùng của ông tọa lạc giữa các ngọn đồi, có rừng thông vi vút, nhiều đảo nhỏ và hồ nước trong xanh. Đổi lấy vẻ hài hòa tĩnh lặng nơi này là sự cưỡng bức lao động rất tàn bạo từ 1864 – 1867. Ngày nay lăng Tự Đức được đánh giá là lăng hoàn mĩ nhất trong bảy lăng mộ của các vị vua triều Nguyễn.

Được lựa chọn và thiết kế theo đúng các nguyên tắc phong thủy, ‘nơi yên nghỉ vĩnh hằng’ này tạo cảm giác tĩnh lặng với những dòng nước và không khí thoáng đãng. Tự Đức thường đến đây tĩnh dưỡng với không gian yên tĩnh và rộng lớn gần 12 hec-ta này. Ông thường đến một trong ba đình thủy tạ ở đây cùng hoàng hậu, các cung phi, các thái giám và các nghệ sĩ cung đình trên hai thuyền rồng do một trăm người chèo, sau đó nghỉ lại tại hiên của trà đình để sáng tác những vần thơ bất tận. Nhận thức cuối cùng về những sai lầm trong cuộc sống được ông viết bằng bài thơ tự kiểm khắc trên bia đá cẩm thạch đặt trước khu mộ. Ông trừng phạt bản thân bởi lời nguyền giam giữ dưới mộ trong vòng 10.000 năm. Bởi vậy đến ngày nay, người ta miêu tả vẻ đẹp trầm tĩnh của lăng bằng câu nói: “Nơi nỗi buồn mỉm cười và niềm vui bật khóc”


Từ cổng vào tráng lệ đến bình phong uy nghi

Lăng Tự Đức được chia thành hai khu vực liền kề với các lối đi riêng biệt. Ở khu vực thấp hơn có dinh thự, một nhà hát, hồ nước bao quanh và một đình trà phục vụ những thú vui trần thế của nhà vua. Khu lăng chính với lối đi nhỏ linh thiêng và nhà bia tọa lạc ở khu vực cao hơn. Công tác nghiên cứu, bảo tồn và trùng tu ưu tiên – được xem là thí điểm và kiểu mẩu cho tổng thể khu vực lăng sau này – tập trung ở hai công trình Bửu Thành Môn và Bình phong khu mộ vua. Cho đến nay, người ta không thể biết liệu thi hài của vua Tự Đức thực sự được mai táng ở đây hay không – những người tham gia tang lễ cuối cùng đều bị giết chết. Tương truyền rằng, có một cung điện dưới lòng

đất cất giữ thi hài nhà vua và những vật dụng quí giá của ông. Điều này cũng được suy luận đối với tất cả khu lăng mộ của các vị vua Triều Nguyễn, nơi có thể xảy ra nạn cướp thi hài và của cải. Việc khai quật khảo cổ không bao giờ được thực hiện tại đây, vì lý do tâm linh một cách sâu sắc. Bửu Thành Môn - cổng vào tráng lệ có cửa hai lá bằng đồng vững chắc – lối vào khu mộ được bao quanh bởi hai vòng tường thành. Cũng như khu mộ của các vị vua nhà Nguyễn khác, kiểu xây dựng này nhằm giữ yên giấc ngủ ngàn thu cho người đã khuất theo tín ngưỡng của người Việt Nam. Các yếu tố trang trí truyền thống đặc trưng nơi đây gồm: tứ linh – long, ly, quy, phụng – các bài thơ, bài nhạc và con dơi biểu tượng cho sự may mắn. Trên đỉnh mái có gắn phù điêu rồng nhằm xua đuổi tà ma.

Giữa cổng lăng và phần mộ theo truyền thống nhất thiết phải có bức Bình Phong mang ý nghĩa bảo vệ mỗi khi mở cổng vào lăng. Suy nghĩ tâm linh này cho đến ngày nay vẫn gắn liền với đời sống tôn giáo ở Việt Nam cũng như cuộc sống hàng ngày của người dân. Nam và nữ, chính và tà, các linh hồn đầy sức mạnh phiêu bạt trong không khí hay lướt theo gió khắp mọi nơi. Bàn thờ, lễ cúng và nén hương nhằm cầu khẩn sự phù hộ của các linh hồn. Tuy nhiên nét đặc trưng của Bình phong tại khu mộ vua Tự Đức là hình những con rồng mang ý nghĩa người gác cổng và kiểu trang trí theo ký tự của Trung hoa có nghĩa là “Trường Thọ” được khảm sành sứ ở cả hai mặt. Bình phong là một yếu tố kiến trúc trong luật phong thủy bắt nguồn từ Trung Hoa.


Phương pháp mới giải mã bí mật cũ

Bửu Thành Môn và Bình phong khu mộ vua tại lăng Tự Đức được xây dựng với giá trị mỹ thuật cao. Tuy nhiên, với những năm tháng làm việc đầy áp lực không ngừng – không được nghỉ ngơi, thời hạn hoàn thành hạn hẹp và nghiêm ngặt – đã khiến những người thợ xây ở đây mắc một vài sai sót nhỏ. Bửu Thành Môn và Bình phong được xây dựng bằng các loại vật liệu truyền thống điển hình của thời Nguyễn như: gạch có trang trí vữa vôi hoặc gạch ốp lát trang trí và gạch ngói có tráng men, khảm sành sứ, phù điêu vữa vôi, kỹ thuật vẽ màu trên vữa tươi và cửa vào lăng bằng đồng chắc chắn. Nguyên tắc cơ bản nhất kể từ khi công tác bảo tồn và trùng tu bắt đầu vào đầu năm 2009 là đảm bảo tình trạng nguyên gốc. Các khu vực bị hư hỏng sẽ được gia

cố. Việc bảo tồn tiến hành hạn chế đến mức có thể và mở rộng chỉ khi cần truyền tải các ý nghĩa tâm linh một cách rõ ràng hơn. Duy trì sự khác biệt có thể nhận biết giữa phần nguyên gốc và phạm vi phục chế được đặt lên hàng đầu. Vữa vôi được pha trộn theo công thức truyền thống và thực hiện nhiều thí nghiệm với các vật liệu phục chế hiện đại của châu Âu để tìm ra sự tương thích. Dự án này tạo ra cơ hội mới để phát triển và thử nghiệm các hợp chất chịu đựng được khí hậu khắc nghiệt của địa phương, từ đó áp dụng vào công tác bảo tồn các công trình kiến trúc ngoài

trời tại Việt Nam. Cho đến nay, một số công trình lịch sử hư hại hay xuống cấp thường bị phá bỏ và xây mới lại. Chính vì vậy, khái niệm này trong chừng mực nào đó xây dựng một kế hoạch thí điểm có quy mô nhằm thiết lập các khả năng bảo tồn và những phương pháp khả thi. Bảo tồn tình trạng nguyên gốc là một phương pháp hoàn toàn mới trong bối cảnh của Việt Nam. Điều đó thúc đẩy việc thử nghiệm các vật liệu có thành phần cơ bản là silic cho việc bảo tồn các loại vữa vôi vô cơ, cũng như việc sử dụng những vật liệu thay thế không cần nung để phục chế các loại gạch men. Việc kết hợp sự hiểu biết chuyên môn với phân tích hóa học và áp dụng các kết quả có được từ thực tế là một hướng đi mới trong công tác bảo tồn tại Việt Nam. Căn cứ khoa học này đang khơi dây tham vọng hé mở những bí ẩn về các loại vật liệu truyền thống nơi đây.


Các giá trị, khoa học và mong muốn thành công

Phát triển một khái niệm về bảo tồn và trùng tu đòi hỏi kiến thức chuyên môn và hiểu biết sâu rộng. Các loại vật liệu nguyên gốc nào đã được sử dụng? Các hư hại cụ thể nào đã xảy ra? Nguyên nhân nào dẫn đến điều đó? Môi trường, hệ thực vật, hệ động vật, thời tiết và cách xử lý trước đây đối với các di tích đã ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng hiện nay của công trình? Các phân tích như thế rất khó thực hiện thường xuyên ở Việt Nam. Những nghệ nhân lớn tuổi đã qua đời mà không có sự truyền nghề. Chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã phá huỷ nhiều tài nguyên. Việc giáo dục thế hệ trẻ được đặt sau cuộc đấu tranh giành sự sống. Vô số tài liệu bị tiêu huỷ. Và quá trình du nhập trào lưu sử dụng xi măng trong xây dựng từ Pháp cũng đã làm bóp méo cách nhìn của người dân về quá khứ.

Ngày nay, Việt Nam cam kết mạnh mẽ việc bảo vệ các di tích lịch sử và các giá trị nghệ thuật duy nhất của mình. Tuy nhiên kiến thức về vật liệu và phương pháp kỹ thuật truyền thống vẫn còn khá giới hạn. Các khóa đào tạo chuyên nghiệp dành cho các nhà bảo tồn và trùng tu vẫn chưa được tiến hành ở đây. Kết quả là các cơ quan địa phương hầu như không được trang bị phương pháp phân tích, bảo tồn và phục chế di tích theo các nghiên cứu khoa học mới nhất.

Bên cạnh bảo tồn và trùng tu một cách chính xác và kết hợp đào tạo các họa sĩ và nghệ nhân địa phương thì nghiên cứu là yếu tố then chốt thứ ba trong dự án này. Không có yếu tố này công tác bảo tồn chỉ được thực hiện theo kinh nghiệm hay phỏng đoán và sẽ dẫn đến những sai sót. Các phòng thí nghiệm ở Đức đã phân tích thành phần cấu tạo của nhiều vật liệu truyền thống và những nguyên nhân gây hư hỏng, nhờ vậy các công việc trên thực tế đã được thúc đẩy. Các kết quả nghiên cứu về độ bền của vữa vôi truyền thống và khả năng chịu đựng cao với thời tiết nóng ẩm đã cho thấy tầm quan trọng rất lớn. Các kết quả này không chỉ có tính thuyết phục về giá trị thẩm mỹ mà còn đáp ứng các tiêu chuẩn khoa học cao nhất.


Tiến hành từng bước

Khi công việc trùng tu Bửu Thành Môn và Bình phong khu mộ vua tại lăng Tự Đức bắt đầu, nhóm Bảo tồn, Trùng tu và Đào tạo Đức (GCREP) đã xác định được nhiều nguyên nhân gây hư hại: – – – – – –

Vi khuẩn từ các loại tảo và rêu Hiện tượng hòa tan vữa vôi và đóng rắn trở lại trên bề mặt công trình Vữa vôi bị phân hủy và bong tróc từng phần đến toàn bộ Đối với gạch: do thời thiết xấu nên bị rạn nứt, lớp tráng men bị bong tróc và bị mờ Đối với họa tiết trang trí: một phần mất đi do vữa vôi bị bong tróc, bị đóng vẩy do mất chất kết dính, bị đổi màu do phản ứng hóa học của vôi và bột màu xanh Lỗi do khi xây dựng mái (mái ngói âm bị thiếu và ngói câu đầu trích thủy không đủ độ vương của mái)

Bụi bẩn, vôi đóng rắn trên bề mặt công trình và sự phát triển các tác nhân sinh học được loại bỏ khỏi những phần vữa vôi bị hư hại bằng dụng cụ chùi rửa và thiết bị phun hơi nước. Rễ của các loại tảo, nấm mốc và rêu sẽ được xử lý bằng phương pháp sốc nhiệt. Ngay sau đó, vữa vôi được xử lý với một chất kháng khuẩn, chất này cũng góp phần gia cố những phần vữa vôi yếu. Cuối cùng những phần vữa vôi bị mất sẽ được trám bằng phần vữa vôi bổ sung. Các họa tiết trang trí được chỉnh sửa và phục hồi màu bằng cách sử dụng chất kết dính vô cơ và kháng kiềm. Những hư hại trên bề mặt men được xử lý bằng hai bước, đầu tiên được trám vá bằng một loại vật liệu đặc biệt tìm ra bởi các chuyên gia Đức, sau đó phủ lên một lớp thủy tinh lỏng chuyên dụng cho ngành phục chế được trộn với các loại bột màu. Đối với phần hư hỏng lớn sẽ phục hồi bằng gạch men trang trí mới. Phần ngói dương hiện nay sẽ được tháo dỡ toàn bộ và thay thế bằng những viên ngói âm dương mới được nung theo phương pháp truyền thống và kiểu dáng thiết kế nguyên gốc.

Tất các phương pháp này hiện nay chưa được phổ biến tại Việt Nam. Điều đó có nghĩa là một kế hoạch thí điểm có thể lập lại cho các dự án tương tự trong tương lai trên toàn đất nước. Qua đó học viên sẽ có cơ hội tiếp cận với các khả năng, các loại vật liệu tại địa phương và kỹ thuật đơn giản liên quan. Các qui trình và giai đoạn đều được tư liệu hóa một cách cẩn thận để thuận tiện cho việc so sánh và hiểu biết về bất cứ hư hại nào có thể xảy ra trong tương lai. Tuy nhiên, các nhà phục chế dù có chuyên môn và cẩn trọng đến mức nào khó có thể dự đoán được chỉ trong một vài năm hay sau một vài đợt gió mùa, liệu những công việc đã thực hiện nơi đây sẽ chịu đựng tốt như thế nào qua thời gian thử thách.


Càng nhiều nhà phục chế, cơ hội càng tốt hơn

Năm học viên phục chế Việt Nam được GCREP đào tạo tại Dự án Bảo tồn và Phục chế tranh tường tại Cung An Định hiện nay đang trùng tu Cổng và Bình phong khu mộ vua tại lăng Tự Đức. Họ mong muốn mở rộng kiến thức và trau dồi kĩ năng của mình. Trước tiên họ được hướng dẫn lý thuyết về đặc tính cấu trúc chi tiết của lăng, các loại vật liệu và phương pháp đã được sử dụng và tiến hành một loạt thí nghiệm. Sau đó công tác thực địa bắt đầu: lắp ráp giàn giáo, lợp mái tôn tránh mưa và nắng. Tất cả học viên đều nhiệt tình cống hiến chuyên môn và kỹ năng của họ vào công việc. Khao khát học hỏi chuyên môn, tính cần cù và lòng kiên nhẫn đã giúp họ vượt qua những điều kiện làm việc khó khăn. Họ yêu thành phố Huế,

hiểu rõ các giá trị lịch sử và tự hào khi đóng góp một phần công sức để gìn giữ nó. Họ cho biết, công tác trùng tu và bảo tồn tại đây đã làm cho công chúng hiểu được công việc của họ, thúc đẩy đáng kể sự quan tâm của địa phương trong công tác bảo tồn di sản. Mục đích của kế hoạch đào tạo là củng cố và mở rộng các kĩ năng phục chế của các học viên, giúp họ có đủ khả năng thực hiện độc lập các dự án bảo tồn văn hóa trong tương lai với trình độ chuyên môn cao hơn. Cho đến nay, các kiến thức về kỹ thuật vữa vôi, gạch và tranh tường truyền thống dường như đang bị lãng quên. Một phần nhờ vào sự thành công của dự án trùng tu tại Cung An Định và ở đây, tại lăng Tự Đức, sự quan tâm về việc phục hồi các phương pháp và vật liệu truyền thống để tiếp tục

ứng dụng cho những dự án xây dựng mới cũng như mục đích bảo tồn đang được đẩy mạnh. Vẻ đẹp, tính độc đáo, chất lượng và độ bền của những công trình truyền thống hoàn toàn vượt trội so với những công trình hiện đại khác trong điều kiện thời tiết nóng ẩm. Để duy trì sự phục hồi này trong đời sống thực tiễn cần phát triển một thị trường lớn mạnh. Điều này đòi hỏi tính thuyết phục của chất lượng sản phẩm và vai trò thường xuyên của những kiến trúc sư và nhà phục chế. Quá trình sản xuất một lần nữa cần quay về với các vật liệu truyền thống như keo da trâu, giấy dó, mật mía và vôi. Bên cạnh đó, cần phát triển số lượng nhà phục chế, nghệ nhân và họa sĩ tại Việt Nam am hiểu các loại vật liệu truyền thống này và các phương thức sử dụng chúng.


Nhận thức mới tạo trách nhiệm mới

Toàn bộ kết quả công việc bảo tồn và trùng tu Bửu Thành Môn và Bình phong khu mộ vua ở lăng Tự Đức sẽ được tư liệu hóa một cách tỉ mỉ và được xuất bản như một cuốn cẩm nang. Việt Nam sẽ toàn quyền sử dụng các hướng dẫn của cuốn cẩm nang trong công tác bảo tồn và trùng tu các di tích tương tự và cũng sẽ hữu ích cho công tác trùng tu tổng thể lăng Tự Đức. Tuy vậy, mục tiêu của cuốn cẩm nang nhằm thúc đẩy cách nhìn nhận chung, tạo ra nhận thức mới và phổ biến những bài học kinh nghiệm qua từng hoàn cảnh lịch sử đến công chúng.

Khi những kiến thức mới được mở rộng, kết hợp với các nguyên tắc khác thì đào tạo nghề cũng cần được tăng cường. Một bước thí điểm đã được thực hiện. Hầu hết những thành viên tham gia chương trình đào tạo của GCREP trước đây tiếp tục làm việc trong lĩnh vực mới – là những họa sỹ có tay nghề cao, là cán bộ của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế (HMCC) hoặc từ các công ty chuyên về bảo tồn khác. Đây là cơ hội tốt để nâng cao và ứng dụng thực tiễn những gì họ đã được đào tạo. Hiện nay, Việt Nam cần thiết có các khóa đào tạo chính quy cho những nhà phục chế và trùng tu. Điều này sẽ có hiệu quả hơn bất kỳ dự án đào tạo ngắn hạn nào. Thực tế thì tại Đức thời gian đào tạo chuyên môn về phục chế là 5 năm liên tục.

Mặc dù kết quả đạt được rất thành công, tuy nhiên tiếp tục nghiên cứu vật liệu và kỹ thuật bảo tồn, phục chế vẫn rất quan trọng. Một vấn đề mới đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là ảnh hưởng của sự ô nhiêm môi trường tác động đến các di tích lịch sử đang ngày càng lớn. Chính xác có những tác động nào? Những hợp chất nào ảnh hưởng đến vật liệu và phương pháp xử lý như thế nào? Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế mong muốn nghiên cứu lĩnh vực bảo tồn quan trọng này trong tương lai gần và kêu gọi các dự án hợp tác mới và thành công như dự án tại lăng Tự Đức.


THỰC HIỆN German Conservation Restoration & Education Projects (GCREP) Phác thảo, chỉ đạo nghệ thuật và thiết kế: Dominique Guglieri Cố vấn chuyên môn: Dipl. Rest. Andrea Teufel Tác giả: Martin Kemlein Dịch tiếng Anh và hiệu đính: Jill Denton Dịch tiếng Việt và hiệu đính: Nguyễn Thị Phương Thảo, Hoàng Thế Vĩnh

CƠ QUAN TÀI TRỢ VÀ NGƯỜI THAM GIA Bộ Ngoại Giao Cộng Hòa Liên Bang Đức, Berlin, Đức Đại sứ quán Cộng Hòa Liên Bang Đức tại Hà nội, Việt Nam Trung Tâm Bảo tồn Di tích Cố Đô Huế, Huế Việt Nam Tổ chức Bảo tồn Di sản Văn hóa, Fulda, Cộng Hòa Liên Bang Đức Những học viên Việt Nam ở Huế, Việt Nam Nguyen Thi Phuong Thao

Gesellschaft zur Erhaltung des Kulturellen Erbes e.V.

© 2010 German Conservation Restoration & Education Projects. Nghiêm cấm tái xuất bản hoặc truyền bá sách này dưới mọi hình thức hoặc mục đích nào, nếu không có sự cho phép của nhà xuất bản. Nhà xuất bản đảm bảo nội dung cuốn sách và không chịu trách nhiệm đối với những sai, thiếu sót nào hoặc đối với bất kỳ hậu quả nào có thể phát sinh từ việc sử dụng sách.

GCREP

German Conservation Restoration & Education Projects


www.gcrep.org | www.deutschland-in-vietnam.de | www.diplo.de/kulturerhalt | www.hueworldheritage.org.vn

Triễn lãm lăng Tự Đức  

Exhibition "Cultural Preservation at the Mausoleum of the Emperor Tu Duc ­ Conservation and Restoration of the Gateway and Spirit Screen at...

Read more
Read more
Similar to
Popular now
Just for you