Issuu on Google+

Đề 2:phân tích nội dung của Tuyên ngôn độc lập của HCM “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh là đỉnh cao của văn chương chính luận Việt Nam. “Tuyên ngôn độc lập” được ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, sau hang nghìn năm nhân dân Việt Nam sống dưới chế độ quân chủ, ngót một trăm năm sống dưới chế độ thực dân, 5 năm phát xít Nhật đô hộ, mùa thu năm 1945, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã làm cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 thắng lợi, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Tuy nhiên, chính quyền non trẻ của ta đang bị âm mưu quay trở lại xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp. Xâm lược Việt nam lần này, thực dân Pháp hòng núp dưới hai chiêu bài lừa bịp công luận quốc tế. Một là chúng có công bảo hộ, khai hoá làm văn minh đất nước ta ngót một thế kỉ qua. Hai là trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, Pháp đã đứng về phía quân Đồng minh Liên Xô để chống lại phát xít Nhật ở Châu Á-Thái Bình Dương. Vì vậy, chúng có quyền thu hồi mảnh đất Việt Nam - mảnh đất đã từng nằm trong tay phát xít. Đứng trước tình hình ấy, nhất là ngày 19/8 chính quyền về đến Hà Nội, ngày 26/8 ta giải phóng đến Huế cũng là ngày Hồ Chí Minh soạn thảo bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tại số nhà 48 phố Hàng Ngang-Hà Nội. “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh nhằm xé toang hai chiêu bài lừa bịp của thưc dân Pháp. Bản tuyên ngôn được Bác đọc tại vườn hoa Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945 trước hơn 50 vạn đồng bảo cả nước với một cảm xúc đặc biệt. Nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ “Sáng tháng 5” đã ghi lại xúc cảm của Người khi đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”: “Giọng của Người đâu phải sấm trên cao Ấm từng tiếng thấm vào lòng mong ước Con nghe Bác tưởng nghe lời nước non Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau” “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh là một tác phẩm có nhiều giá trị ở nhiều lĩnh vực. Nếu đứng về góc độ pháp lí thì bản “Tuyên ngôn độc lập” là văn kiện pháp lí đầu tiên khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên trường quốc tế. Nếu đứng từ góc độ ngoại giao, “Tuyên ngôn độc lập” cũng là văn bản ngoại giao đầu tiên đặt nền móng quan hệ ngoại giao giữ Việt Nam với các nước trên thế giới. Nếu đặt “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh trong dòng chảy lịch sử nước nhà thì đây là bản tuyên ngôn lần thứ ba của dân tộc Việt Nam. Nhớ lại bản tuyên ngôn đầu tiên của nước ta là “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt với lời khẳng định: “Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận ở sách trời Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” Vang vang đâu đây cùng lời thơ thần của Lý Thường Kiệt là Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi-được xem là bản tuyên ngon lần thứ hai của dân tộc Việt Nam với lời khẳng định: “Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu


Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác” Kế thừa tinh thần yêu nước từ hai bản tuyên ngôn trên, “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh cũng khẳng định được tính thời đại mới mẻ bở lẽ “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh đã mở ra một kỉ nguyên mới-đó là kỉ nguyên độc lập dân tộc của một dân tộc thuộc địa như ở Việt Nam lần đâu tiên vùng dậy chặt đứt xiềng xích của thực dân giành chính quyền giải phòng cho mình. Đó là một dân tộc lầm than đã từng “giũ bùn đứng dậy sáng loà” như lời thơ của Nguyễn Đình Thi trong bài “Đất nước”: “Xiềng xích chúng bay không khóa được. Trời đầy chim và đất đầy hoa Súng đạn chúng bay không bắn được Lòng dân ta yêu nước thương nhà” Nếu đứng từ góc độ văn chương nghệ thuật thì “Tuyên ngôn độc lập” là đỉnh cao của văn chính luận đạt đến trình độ mẫu mực. Để làm sáng tỏ nhận định trên, ta tập trung tìm hiểu giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bản “Tuyên ngôn độc lập”. Trước hết là giá trị nội dung, “Tuyên ngôn độc lập” được Bác Hồ viết dưới hai nguồn cảm hứng chính - ấy là cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân văn. Nếu cảm hứng yêu nước là tiếng nói của một nhà ái quốc vĩ đại thì cảm hứng nhân văn là tiếng nói của một nhà nhân đạo cộng sản đã hi sinh cả cuộc đời mình để đấu tranh vì quyền con người, trong khi đó cảm hứng yêu nước như một sợi chỉ đó xuyên suốt cả ba phần của “Tuyên ngôn độc lập”. Phần I của bản tuyên ngôn Hồ Chí Minh khẳng định quyền độc lập của dân tộc trên cơ sở lí lẽ không ai có thể chối cãi được. Ở phần này, Bác dẫn lời bản “Tuyên ngôn độc lập” của nước Mỹ ngày 4/7/1776, ở đó có đoạn viết: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Bác còn dẫn lời bản “Tuyên ngôn nhân quyền dân quyền” của cách mạng Pháp năm 1791. Trong 17 điều của bản “Tuyên ngôn nhân quyền dân quyền” Bác có dẫn đoạn: “Người ta sinh ra tự do, bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do, bình đẳng về quyền lợi”. Có thể khẳng định đây là những lẽ phải, những chân lí mà thế giới đã từng công nhận. Từ những lẽ phải và chân lí này, Bác suy ra một chân lí thứ ba buộc mọi người phải thừa nhận: “Suy rộng ra câu nói ấy nghĩa là: tất cả dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng. Dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Cách lập luận của Hồ Chí Minh trong bản “Tuyên ngôn độc lập” vừa tỏ ra khôn khéo, lại vừa tỏ ra kiên quyết. Khôn khéo bởi lẽ người dung lời lẽ của bản “Tuyên ngôn nhân quyền dân quyền” của cách mạng Pháp để so sánh việc làm đồi bại của chúng trên đất nước Việt Nam ngót một thế kỉ qua. Từ đo nhằm mục đích xé toang hai chiêu bài lừa bịp của thực dân Pháp trên trường quốc tế. Ở đây Người dùng nghệ thuật gậy ông đập lại lưng ông nghĩa là Bác dung cây gậy độc lập dân tộc để đánh vào lưng kẻ chuyên mang quân đi xâm lược mà miệng lại luôn nói về quyền tự do, bình đẳng, bác ái – trong tranh luận , không gì sung sướng và thú vị bằng việc lấy lời lẽ của đối phương để khoá lại


miệng đối phưong. Hồ Chí Minh đã làm tốt nghệ thuật này ngay trong phần I của “Tuyên ngôn độc lập”. Cách lập luận của Hồ Chí Minh trong phần I của bản “Tuyên ngôn độc lập” còn tỏ ra kiên quyết. Kiến quyết bởi lẽ Người ngầm cảnh cáo với nước Pháp rằng:”Nếu thực dân Pháp quyết đem quân đi xâm lược Việt Nam lúc này thì chúng sẽ vấy lên là cờ tự do, bình đẳng, bác ái mà cha ông họ đã giương cao từ thế kỉ trước; chúng sẽ chà đạp lên truyền tốt đẹp mà cha ông họ đã dày công vun đắp”. Hơn thế nữa, Hồ Chí Minh trong phần I của bản “Tuyên ngôn độc lập” đã đặt ngang hàng bản “Tuyên ngôn độc lập” của Việt Nam với bản tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp nghĩa là Người đặt ngang hang thành quả của cuộc cách mạng tháng 8 ở Việt Nam với thành quả cách mạng của nước Pháp trong khi thực dân Pháp đang phủ nhận lại thành quả của cuộc cách mạng tháng 8 của ta, lẽ dĩ nhiên chúng sẽ phủ nhận thành quả cách mạng của chúng. Khi đó, thực dân Pháp đang đi ngược lại bánh xe của lịch sự. Phần I của bản “Tuyên ngôn độc lập” vẻn vẹn chỉ có mươi dòng nhưng cách lập luận của Người vô cùng sắc sảo, đanh tháp, Hồ Chí Minh xứng đáng là nhà văn của nhân loại như lời của Muyđenstande. Phần II, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định quyền độc lập của dân tộc trên cơ sở tình hình thực tiễn ở Việt Nam. Ở phần này, “Tuyên ngôn độc lập” chẳng khác nào như một bản cáo trạng đanh thép nhằm kết tội tội ác của thực dân Pháp với hai tội trạng:” Tội xâm lược Việt Nam gây bao đau khổ cho đồng bào Việt Nam và tội bán Việt Nam cho Nhật”. Trước hết là tội xâm lược Việt Nam. Thực dân Pháp bắt đầu đặt chân xâm lược nước ta từ 1858 với sự kiện nổ sung ở cảng Đà Nẵng. Sau khi bình định được nước ta, chúng tập trng khai thác tài nguyên, thiên nhiên, vật liệu để làm giàu cho chính quốc. Để vạch trần tội ác này, Hồ Chí Minh đã tập trung tố cao trên nhiều phương diện. Trươc hết là phường diện chính trị. Thực dân Pháp dùng chính sách “chia để trị”. Chúng chia nước ta ra làm ba kì với ba hình thức cai trị khác nhau. Chúng còn dùng chính sách chia rẽ đồng bào, dân tộc ta. Chúng thi hành lụât pháp dã man. Chúng không cho dân ta môt chút quyền tự do dân chủ nào. Chúng thẳng tay đàn áp, chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng dìm các cuộc khởi nghĩa của ta trong biển máu,… Về kinh tế, chúng cướp không ruộng đất của nhân dân ta để lập đồn điền, hầm mỏ. Chúng độc quyền in giấy bạc. Chúng thiết lập một hàng rào thuế quan nghiêm ngặt, không cho hàng của Việt Nam ra nước ngoài cũng như hang của nước ngoài vào Việt Nam nhằm độc quyền chiếm giữ thị trường Việt Nam. Chúng đặt ra những thứ thuế dã man, vô lí làm cho mọi giai tầng của ta không thể ngóc đầu lên được. Về văn hoá-xã hội, thực dân Pháp mở nhà tù nhiều hơn trường học rồi dung chính sách nhồi sọ ngu dân để dễ bề cai trị. Chúng còn đầu độc dân ta bằng rượu cồn, thuốc phiện để dân ta bị suy kiệt về nòi giống… Chính sách xâm lược của thực dân Pháp kết hợp với phát xít Nhất từ mùa thu năm 1940 đã dẫn đến hậu quả cuối 1944 - đầu 1945, hơn 2 triệu đồng bào Việt Nam bị chết đói từ Quảng Trị trở ra Bắc Kì. ới cách tố cáo này, thực dân Pháp không phải là kẻ bảo hộ nước ta, khai hoá làm văn minh nước Việt Nam như luận điệu chúng đang lừa bịp công luận quốc tế. Thực chất, thực dân Pháp là kẻ xâm lược Việt Nam gây bao đau khổ cho đồng bào Việt Nam. Chiêu bài bảo hộ của thực dân Pháp đã bị Hồ Chí Minh xé toang trên trường quốc tế.


Trên cơ sở ấy, Người tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với thực dân Pháp, xoá bỏ trên đất nước Việt Nam…” Cuối cùng thay mặt cho cả một dân tộc vừa giành được tự do độp lập. Người nêu lời thề “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cảI để giữ vững quyền tự do Độc lập ấy”- Tuyên ngôn Độc lập là kiệt tác của Hồ Chí Minh. Bằng tâm huyết và tài hoa, Người đã thể hiện được khí phách của một dân tộc đang vùng dậy chống đế quốc, thực dân phong kiến, giành Độc lập tự do cho nước nhà. Lời tuyên bố cũng chính là lời thề sắt đá cũng là tiếng khèn sung trận khích lệ nhân dân ta sẵn sang bước vào cuộc chiến đấu mới đồng thời là lời cảnh báo kẻ thù nếu cố tình xâm lược Việt Nam lần 2 chúng chỉ chuốc lấy thất bại nặng. Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh không chỉ là áng văn chương bất hủ mà còn là văn kiện lịch sử vô giá đi vào lịch sử dân tộc như 1 mốc son chói lọi, 1 niềm tự hào thiêng liêng. Tuyên ngôn độc lập không chỉ tuyên bố với thế giới về quyền độc lập tự do mà nhân dân Việt nam được hưởng, còn tố cáo tội ác tày trời của thực dân Pháp và pháp xít đập tan cái lớp vở hoa mĩ của “khai hóa, bảo hộ” mà chúng ta đã từng rêu rao. Sự thành công và sức thuyết phục của TNĐL là sự kết tinh ở 1 lãnh tụ có tầm tư tưởng văn hóa lớn của kinh nghiệm đấu tranh vì độc lập dân tộc vì nhân quyền, dân quyền của dân tộc và nhân loại. Khi đánh giá về sự thành công cua TNĐL . Hồ Chí Minh đã thừa nhận đây là thành công thứ 3 trên con đường hoạt động cách mạng khiến người sung sướng vô cùng. Đề 3: Phân tích văn phong chính luận của Hồ Chí Minh thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập. Ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình, chủ tịch Hồ chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa – nhà nước đầu tiên ở Đông Nam Á. TNĐL không chỉ là 1 văn kiện lịch sử vô giá mà còn là 1 áng hùng văn thể hiện rất rĩ tài năng xây dựng hệ thống lập luận logic, chặt chẽ, có sức thuyết phục cao với triệu triệu trái tim nhân loại về quyền được hưởng độc lập tự do và tinh thần bảo vệ đến cùng nền độc lập tự do đó. Ngoài ra bản Tuyên ngôn còn vạch trần tội ác của ke tranh thỉ sự ủng hộ của nhân dân thế giới với cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc VN. Khi Hà Nội giành được chính quyền ngà 26/8/1945 chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội, Tại ngôi nhà số 48 phố hàng ngang người soạn thảo bản TNĐl. Ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình chủ tịch HCM đọc bản TNĐL trước hàng vạn nhân dân thủ đô và trước muôn triệu trái tim nhân dân thế giới. TNĐL là 1 văn kiện có giá trị to lớn về lịch sử: tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nước ta mở ra 1 kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. TNĐL là 1 áng văn chính luận mẫu mực, ngắn gọn, xúc tích, lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn và có sức thuyết phục cao. TNĐL đã để lại cho nền văn học nước nhà 1 kiểu mẫu về văn chính luận. TNĐL không chỉ tuyên bố về các quyền được hưởng độc lập tự do, quyết t��m giữ vững nền độc lập tự do mà còn là 1 cuộc tranh luận, bác bỏ những luận điệu xảo trá của Thực dân Pháp đã từng coi Đông Dương và Việt Nam là thuộc địa của chúng, nay Nhật đầu hàng thì phải thuộc về chúng. Thực dân Pháp coi đấy là cái cớ để chúng xâm lược


nước ta lần thứ 2. Trong khi đó ở miền Bắc quân đội Tưởng Giới Thạch dưới danh nghĩa là đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật nhưng ngấm ngầm ủng hộ Pháp xâm lược nước ta 1 lần nữa. ở đằng sau là quân đội Mĩ, Anh đứng sau quân đội viễn chinh Pháp. TNĐL đã dùng ngôn từ sắc sảo, đanh thép cùng với hệ thống lập luận chặt chẽ để thuyết phục người nghe cả lí lẫn tình. Về bố cục, TNDDL chia làm 3 phần có 1 logic chặt chẽ. Phần đầu bản TN: “Hỡi đồng bào cả nước …đó là lẽ phải không ai có thể chối cãi được”, HCM đã đưa ra những cơ sở pháp lí và chính nghĩa từ 2 bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ đã được thế giới thừa nhận và được ca ngợi là 2 cuộc cách mạng tiến bộ và lớn nhất thế giới: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, “Người ta sinh ra tự do bình đảng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Dẫn lời 2 bản tuyên ngôn năm 1791 của Pháp, 1776 của Mĩ, HCM đã đặt cuộc cách mạng VN ngang hàng với hai cuộc cách mạng lớn trên thế giới. Phần thứ 2 của bản TNĐL, chủ tịch HCM dẫn ra tội ác của thực dân Pháp đó là vô nhân đạo và phi nghĩa, trong suốt 80 năm thực dân Pháp đô hộ nước ta đồng thời làm nổi bật ý nghĩa của Cách mạng tháng 8 là cuộc cách mạng chính nghãi và nhân đạo, thực hiện 2 nhiệm vụ trọng yếu của cuộc cách mạng Pháp và Mĩ. “Thế mà hơn 80 năm nay…dân tộc đó phải được độc lập”. Phần 3 là phần kết luận cho TNDDL dựa trên cơ sở pháp lí, chính nghĩa cùng với cơ sở thực tiễn đã nêu ra ở trên để chính thức tuyên bố với thế giới về quyền được hưởng độc lập tự do và ý chí sắt đá của nhân dân ta quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do đó đến cùng. Xét về hình thức lập luận, TNĐL là 1 chỉnh thể của phương pháp luận 3 đoạn ngắn gọn, khúc triết được triển khai theo 3 mệnh đề: A, B, C. Mệnh đề 1 (A) đề cập tới vấn đề thế giới đã công nhận các nguyên tác dân tộc bình đẳng độc lập tự do được tuyen bố trong 2 bản tuyên ngôn năm 1776 của Mĩ và 1791 của Pháp. Mệnh đề 2 (B) đề cập tới cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam giành độc lập tự do theo đúng các bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ đã đề ra. Mệnh đề 3 (C) thế giới đã thừa nhận của Pháp và Mĩ thì tất yếu phải thừa nhận quyền bình đẳng và nền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam đã được tuyên bố trong bản TNĐL. Với 3 mệnh đề như vậy chúng ta có thể thiết lập được 1 công thức như sau: B = A, C=B, C=A. TNĐL là áng văn chính luận, nhưng HCM vẫn muốn thuyết phục người nghe bằng tình cảm. chỉ có tình cảm kết hợp với sự thật với lí lẽ mới có sức cảm hóa mạnh mẽ người đọc. Vì thế, TNĐL vừa mang màu sắc chính luận vừa thấm đượm chất trữ tình. Cùng với việc tố cáo tội ác của kẻ thù, TNĐL đưa ra những truyền thống đạo lí và nhân nghĩa đã có hàng nghìn đời nay của dân tộc ta. Đó là việc cứu người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, đưa học chốn qua biên thùy, bảo vệ tính mạng tài sản cho họ, mặc dù khi thua chạy, họ giết nốt số đông tù chính trị của ta ở Yên Bái, Cao Bằng. Lối viết văn trong TNĐL của Bác giống như lối viết văn của Trần Quốc Tuấn trong “Hịch tướng sĩ” và của Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” Trong TNĐL, Hồ Chí Minh rất chú ý đến cách đặt câu, cách dùng hình ảnh so sánh mới lạ giàu sức gợi cảm và có sức tố cáo mạnh mẽ tội ác trời không dung đất không


tha của Thực dân Pháp. Khi nói về cuộc sống khai hóa của Pháp ở Việt Nam, bác lại dùng hình ảnh so sánh mới lạ khó có hình ảnh nào thay thế được: “Chúng tắm các cuộc khỏi nghĩa của ta trong những bể máu”, “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học”. những câu văn được tổ chức có cấu trúc song hành cùng với số từ đặt ở đầu câu có tác dụng khắc sâu nhấn mạnh cái quyền được hưởng đậc lập tự do của 1 dân tộc gan góc đứng về phe đồng minh để chống ngoại xâm: “1 dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nawy, 1 dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. Với 2 câu văn tác giả đã lặp lại 2 lần từ “gan góc”, 4 lần nhấn mạnh chữ “dân tộc” cùng 2 câu được lặp lặp lại giống như những nhát dao mỗi lúc chém xuống càng mạnh hơn. Những câu văn được tở chức như thế ta đọc lên thấy sung sướng, sảng khoái biết nhường nào nó không chỉ tiếp nối truyền thống cha ông mà còn lập luận hùng biện đanh théo của thời đại mới. TNĐL còn được viết bằng câu văn cân đối về nhịp điệu, đối lí, đối lời, đối vế câu trùng điệp từ ngữ tạo nên 1 âm hưởng hùng tráng làm tăng sức hấp dẫn và khả năng thuyết phục người nghe. Có những đoạn văn chỉ là 1 câu ngắn gọn giống như nhát búa đập tan lớp vở hoa mĩ mà thực dân Pháp khoe khoang là khai hóa, bảo hộ. có những câu văn được ngắt nhịp 2-2-3 cùng với các cặp từ đối: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Với dụng ý nghệ thuật ấy, HCM đã làm nổi bật sự thắng lợi tất yếu của cách mạng và sự thất bại liên tiếp, sự sụp đổ dây truyền, sự tan rã không có gì có thể cưỡng nổi của bọn phản cách mạng và tất yếu dẫn đến sự thắng lợi của cách mạng tháng 8/1945. Nghệ thuật điệp từ được xem là nét chủ đạo trong TNĐL. Từ “chúng” điệp lại 18 lần từ “ta” điệp lại 26 lần, từ “quyền” lặp ại 13 lần, “sự thật” điệp 3 lần và rất nhiều lần các từ độc lập tự do được nhắc lại. sau 13 lần điệp lại chữ “quyền” là 14 câu liên tiếp, câu nào cũng được mở đầu bằng chũ “chúng’ nghe nặng như búa tạ gieo xuống nỗi khổ của nhân dân ta. Mỗi chữ ‘chúng” cũng như mỗi tội ác của kẻ thù như trút xuống. chữ “ta” làm hiện hình những nỗi đau khổ mà nhân dân ta phải hứng chịu. những câu văn như thế không chỉ làm xúc động lòng người đọc mà còn bộc lộ rõ lòng căm thù cao độ của nhân dân ta với kẻ thù xâm lược. thế rồi hai chữ “sự thật” cũng được nhắc lại nhiều lần để khẳng định với nhân dân thế giới không có lí lẽ nào có sức thuyết phục cao hơn sự thật, nhân dân Việt Nam đang được hưởng độc lập tự do, tự do độc lập đó là sự thật của dân tộc Việt Nam. Việc tuyên bố độc lập tự do, quyền được hưởng và quyền bảo vệ nền độc lập tự do đó là hợp pháp hóa trước nhân dân thế giới mà thôi. Bên cạnh việc lặp lại từ, TNĐL còn sử dụng nhiều từ ngữ bộc lộ lòng căm thù cao độ của nhân dân ta với tội ác tày trời của thực dân Pháp: “trái hẳn, tuyệt đối không cho, dã man, thẳng tay chém giết, bóc lột xương tủy,…”. Cách lựa chọn từ ngữ có tính chất khái quát cao làm cho TNĐL ngắn gọc và lắng sâu vào lòng người. Trong TNĐL Bác còn sử dụng 1 câu văn rất nagwns nhưng đã thâu tóm được 1 quá trình lịch sử lâu dài của dân tộc trong suốt 80 năm chống Pháp, đuổi Nhật và lật đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ: “Pháp chạy, Nhật Hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Cùng với việc điệp từ ngữ, TNĐL còn chú ý đến việc lựa chọn từ ngữ đạt chính xác về nghĩa. Chúng ta chỉ cần phân tích 1 chữ “tin” mà Người đã sử dụng trong câu văn “Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đnăgr ở các hội nghị Têherrăng, kịu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền


độc lập của dân tộc Việt Nam”. Chữ “tin” được Bác sử dụng thật đúng chỗ, khó có từ nào có thể thay thế được, giả sử ta thay từ tin bằng những từ đồng nghĩa “mong”, “muốn” hoặc “mong muốn” thì ý nghãi của câu văn lại hoàn toàn khác, nghĩa đã bị thu hẹp đi và vị thế của ta cũng giảm nhiều bời vi “mong muốn” chỉ nói lên được nguyện vọng của ta giống như 1 sự cầu xin còn "tin”ngoài việc nói được nguyện vọng của ta còn nói được nguyện vọng của chính nghĩa, phe đồng minh. Trong TNĐL chúng ta thấy rất nhiều những từ được dùng nghĩa chính xác như vậy. TNĐL là 1 văn kiện lịch sử vô cùng to lớn, đồng thời cũng là 1 tác phẩm văn học chính luận mẫu mực. Áng thiên cổ hùng văn này không chỉ tuyên bố chắm dứt sự đô hộ của ngoại xâm mà còn để cho văn chính luận 1 nghệ thuật viết văn sắc sảo. mặc dù TNĐL đã viết cách đấy hơn nửa thế kỉ nhưng câu nói thân mật của Bác “Tôi nói đồng bào nghe rõ không” vẫn còn văng vẳng đâu đây. Thưa Bác, lời Bác chúng cháu vẫn còn nghe rõ, con cháu muôn đời sau vẫn còn nghe rõ, không chỉ nghe rõ mà chúng cháu còn thấy cả bầu trời xanh ngắt của sáng tuyên ngôn. VỢ CHỒNG A PHỦ - TÔ HOÀI Đề 1:phân tích giá trị hiện thực của tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài. + Tác giả: Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 10-8-1920 ở làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông ( nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội). Năm 1943 , ông gia nhập Hội văn hóa cứu nước. Trong kháng chiến chống Pháp, ông chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực báo chí, nhưng vẫn có một số thành tựu quan trọng trong sáng tác, tiêu biểu là tập Truyện Tây Bắc +

Tác

phẩm:

* Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Tô Hoài chuyên hai đề tài: - Đề tài vùng ngoại ô: Quê người ( tiểu thuyết, 1941), Trăng thề ( tiểu thuyết, 1941), Nhà nghèo ( tập truyện ngắn, 1944), Xóm Giếng ngày xưa ( tiểu thuyết, 1944). Ở các tác phẩm này, Tô Hoài nhìn nông thôn nghiêng về phía các phong tục, nhưng qua đó, ta vẫn thấy rõ cuộc sống gieo neo, cơ cực của người nông dân pha thợ thủ công. - Đề tài về loài vật: Nổi bật nhất là Dế Mèn phiêu lưu kí ( truyện 1941), O chuột ( tập truyện ngắn , 1942). Ở các tác phẩm trên, nhà văn bộc lộ khả năng quan sát tinh tường, trí tưởng tượng mạnh mẽ, tài miêu tả ( tả cảnh, tả động vật…sinh động, hóm hỉnh), đồng thời cũng thể hiện thái độ phê phán cuộc sống thực tại và ước mơ về một xã hội tốt đẹp. * Vợ chồng A Phủ là một trong ba truyện ngắn được rút ra từ tập Truyện Tây Bắc , kết quả của chuyến Tô Hoài đi cùng bộ đội trong tám tháng và giải phóng Tây Bắc ( 1952). Do có những giá trị nội dung và nghệ thuật nổi bật , tác phẩm đã đạt giải nhất của Hội Văn học Việt Nam năm 1954- 1955 ( đồng hạng với đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc).


2. Giá trị hiện thực + Thông qua câu chuyện cuộc đời cặp vợ chồng người Mèo này . Tô Hoài nêu lên vấn đề số phận nam nữ , thanh niên Mèo nói riêng và đồng bào dân tộc nói chung dưới sự áp bức bóc lột của bọn thực dân phong kiến và con đường đến với cách mạng của họ . Bên cạnh đó , tác giả đặt vấn đề cần giải phóng phụ nữ và những chủ trương chính sách của Đảng trong việc giúp đỡ các dân tộc anh em. Những nội dung nói trên đã làm nên giá trị hiện thực của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ. Qua cuộc đời đau khổ của Mị và A Phủ, Tô Hoài đã lên tiếng tố cáo những tội ác của bọn thực dân phong kiến đối với những người dân vùng núi Tây Bắc . Nhân dân miền núi nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung phải chịu cảnh một cổ hai tròng. Dưới thời thực dân Pháp. Thống lí là người đứng đầu bộ máy chính quyền ở các bản làng vùng dân tộc. Giàu có, lại dựa vào thế lực của Tây, cha con thống lí Pá Tra tha hồ tác oai tác quái ức hiếp dân lành. Đó là hiện trạng phổ biến xảy ra ở nước ta trước Cách mạng. Bằng chính sách cho vay nặng lãi , chúng bóc lột người dân đến tận xương tủy. Mị và A Phủ là nạn nhân trực tiếp của chính sách ấy. Chỉ vì món tiền cưới cha mẹ mà Mị đã phải bán mình làm dâu nhưng thân phận Mị không khác nào kẻ tôi đòi, làm việc không công đến suốt đời. Cái địa ngục khủng khiếp ấy đã biến Mị từ một cô gái trẻ trung, vui tươi, xinh đẹp, yêu đời thành “ con rùa lùi lũi nuôi trong xó cửa”, thành “ con trâu con ngựa trong chuồng; chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi”. Đối lập hoàn toàn với cuộc sống giàu sang phú quí ở nhà thống lí- mà tác giả đã tố cáo được tạo nên do việc “ ăn của dân nhiều, đồn tây lại cho muối về bán”- với “ nhiều ruộng, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng” là hình ảnh Mị “ ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa , cạnh tàu ngựa “ và “ lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, Mị cũng cúi mặt , mặt buồn rười rượi”. Cường quyền và thần quyền nhà thống lí Pá Tra đã giết chết cô gái ấy cả thể xác lẫn tâm hồn. Mị cùng bao cô gái đáng thương khác trong nhà thống lí – như người chị dâu chưa già mà lưng đã còng vì quanh năm phải đeo thồ nặng quá , còn Mị- phải làm việc cực nhọc suốt đêm ngày để phục dịch cho cha con thống lí ăn chơi quanh năm suốt tháng. Cuộc sống câm lặng nhẫn nhục đã làm Mị chai sạn đi, trở thành cái xác không hồn vật vờ, thành một nữ cô chỉ biết làm việc không ngơi tay, thành kẻ hầu hạ cho chồng mình mà lúc nào cũng có thể bị đánh đập một cách tàn nhẫn không thương tiếc. Ý thức về cuộc sống trong Mị giờ đây đã bị xóa sạch. Với cô không còn quá khứ, hiện tại, tương lai, chỉ còn ô cửa sổ bé tí nhờ nhờ thứ ánh sáng thảm hại không biết ngày hay đêm, chỉ còn ánh lửa leo lét làm bạn giữa đêm đông dài giá lạnh. Rồi cái mong ước bình dị được đi chơi tết của Mị cũng bị A Sử phũ phàng dập tắt khi nó vừa mới bừng lên. Trong khi A Sử đi chơi và bắt bao nhiêu cô gái đẹp về làm vợ, Mị không dám nói gì. Dù là vợ A Sử , Mị vẫn bị hắn trói dã man vào cột nhà khi cô vừa nảy ra ý muốn đi chơi Tết như bao phụ nữ đã có chồng khác.


Thân phận con người , đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội thực dân phong kiến ngày ấy bị coi rẻ quá mức. Người phụ nữ chỉ biết cúi đầu cam chịu. Quyền bình đẳng nam nữ chỉ là một khao khát không bao giờ trở thành hiện thực. Bên cạnh cô Mị sống như đã chết ấy là A Phủ. Cũng vì món nợ vô lí suôt đời không thể trả nổi mà A Phủ phải bước chân vào nhà thống lí. Cũng chỉ vì yêu lẽ phải, dũng cảm đánh lại con nhà giàu để bảo vệ công lí mà A Phủ bị bắt phạt vạ một cách bất công. Anh bị bắt, bị đánh đập tàn ác : “ Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt dập chảy máu. Xong một lượt đánh, kể, chửi, lại hút…Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút…”.Mạng người bị coi rẻ; pháp luật, công lí thuộc về tay kẻ có tiền, có thế lực. Cha con thống lí đã tự cho mình các quyền sinh sát, mặc nhiên ức hiếp , sát hại dân làng. Cũng như Mị, A Phủ trở thành cái máy làm việc trong nhà thống lí : “ Đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót,bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một mình rong ruổi ngoài gò, ngoài rừng”. Người ở đợ trừ nợ cho nhà thống lí thì cũng như con trâu, con ngựa vô tri trong chuồng. Thống lí đã dùng việc cho vay nặng lãi để ràng buộc cuộc đời người nông dân, biến họ thành nô lệ, đời đời kiếp kiếp. Thống lí Pá Tra đã tuyên bố: “ Đời mày, đời con, đời cháu mày, tao cũng bắt thế, bao giờ trả hết nợ tao mới thôi”. Cha con thống lí thản nhiên mặc sức hưởng lạc trên mồ hôi công sức người khác. Rồi do nguyên nhân khách quan gặp cơn đói rừng, hổ ăn mất một con bò- đó là chuyện hoàn toàn ở miền núi và A Phủ có khả năng chuộc lại lỗi lầm vậy mà A Phủ vẫn đành phải chấp nhận tự lấy dây, lấy cọc cho thống lí trói mình vào cọc một cách nhục nhã để thế mạng cho con bò bị mất. Số phận đau khổ nghiệt ngã của Mị và A Phủ cũng là số phận của đồng bào Tây Bắc trước cách mạng nói riêng và người nông dân Việt Nam nói chung. Tức nước vỡ bờ, Mị cởi trói cho A Phủ và cùng A Phủ chạy trốn. Lòng nhân đạo, niềm khao khát cuộc sống tự do, sự căm thù sâu sắc cha con thống lí đã làm nên sức mạnh diệu kì ở Mị. Nhưng tất cả những điều đó là khởi phát từ bản tính hướng thiện tự nhiên của con người. Mị làm như vậy vì cô không còn cách nào khác, cô không đành lòng nhìn một con người bằng xương bằng thịt chết thê thảm trước mắt mình một cách vô lí. Điều này hoàn toàn phù hợp với bản chất của cô: nhân hậu , trong sáng, yêu đời. Hành động của cô mang tính tự phát. Thế nhưng, Mị và A Phủ sẽ trốn đi đâu, làm gì? Hay là họ lại sẽ rơi vào tay một thống lí Pá Tra khác, lại tiếp tục cảnh nô lệ cùng cực? Tô Hoài đã mở đường cho họ: đến với Đảng, đi theo cách mạng. Đó mới là con đường để họ tự đứng lên giải phóng mình , tháo bỏ ách xiềng xích nô lệ. Đảng đã không quên những dân tộc anh em, những người dân miền núi chất phác, trung thực, còn đang chịu cảnh áp bức. Đó cũng là chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng ta trong thời kì ấy. Ở Phiềng Sa, A Phủ đã gặp A Châu , người cán bộ cách mạng đã đến hoạt động ở vùng rừng núi hẻo lánh xa xôi của Tây Bắc . A Phủ và Mị đã được A Châu giác ngộ, họ hiểu rõ hơn bản chất của bọn thực dân phong kiến và nhận thức được con đường duy nhất đúng đắn là mình phải theo cách mạng để thoát khỏi cái nghèo, thoát khỏi kiếp nô lệ: tự mình phải đứng lên lật đổ ách thực dân phong kiến ,


tiêu diệt những kẻ như cha con thống lí Pá Tra thì mới có cuộc sống hạnh phúc, tự do lâu bền thực sự. Đảng đã chỉ đường cho họ và A Phủ đã trở thành tiểu đội trưởng đội du kích. Mị và A Phủ tự nguyện đứng lên bảo vệ quê hương, bản làng, đánh Tây và xóa bỏ chế độ phong kiến. Con đường đấu tranh của đôi thanh niên Mèo dũng cảm ấy đã chuyển từ tự phát sang tự giác. Giờ đây họ đã ý thức được hành động của mình, quyết tâm đi theo lí tưởng của Đảng. Sự chuyển biến về nhận thức, tư tưởng của Mị, và A Phủ tiêu biểu cho sự chuyển biến tư tưởng của đồng bào dân tộc khi được Đảng tuyên truyền giác ngộ. Đề 2: phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm vợ chồng của Tô Hoài. Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" mà nhà văn Tô Hoài đã giành nhiều tài năng và tâm huyết để xây dựng. Truyện được trích từ tập "truyện Tây Bắc" (1953) của Tô Hoài. Trong chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng miền Tây Bắc (1952), Tô Hoài đã có dịp sống, cùng ăn, cùng ở với đồng bào các dân tộc miền núi, chính điều đó đã giúp Tô Hoài tìm được cảm hứng để viết truyện này. Tô Hoài thành công trong "Vợ chồng A Phủ" không chỉ do vốn sống, tình cảm sống của mình mà còn là do tài năng nghệ thuật cùa một cây bút tài hoa. Trong "Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật, trong đó nổi bật và đáng chú ý nhất là biện pháp phân tích tâm lý và hành động của Mị trong từng chặng đường đời. Điểm nghệ thuật ấy thật sự phát sáng và thăng hoa trong đoạn văn miêu tả tâm lý và hành động của nhân vật Mị trong đêm mùa đông cứu A Phủ. Qua đó ta thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm. Trong tác phẩm này, điều gây cho bạn đọc ấn tượng nhất đó chính là hình ảnh của cô gái "dù làm bất cứ việc gì, cô ta cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi". Đó là nét tâm lý của một con người cam chịu, buông xuôi trước số phận, hoàn cảnh sống đen tối đầy bi kịch. Sở dĩ Mị có nét tính cách ấy là do cuộc sống hôn nhân cưỡng bức giữa Mị và A Sử. Mị không được lấy người mình yêu mà phải ăn đời ở kiếp với một người mà mình sợ hãi, lạnh lùng. Một nguyên nhân nữa chính là do uy quyền, thần quyền, đồng tiền của nhà thống lý Pá Tra đã biến Mị thành một đứa con dâu gạt nợ. Mang tiếng là con dâu của một người giàu có nhất vùng, nhưng thật sự Mị chỉ là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Điều đó làm Mị đau khổ, Mị khóc ròng rã mấy tháng trời và từng có ý định ăn nắm lá ngón kết thúc cuộc đời mình. Thế nhưng "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi". Chính vì thế Mị đã buông xuôi trước số phận đen tối của mình, trái tim của Mị dần chai sạn và mất đi nhịp đập tự nhiên của nó. Song song với nét tính cách đó lại là tâm trạng của một người yêu đời, yêu cuộc sống, mong muốn thoát khỏi hoàn cảnh sống đen tối, đầy bi kịch. Điều đó đã được thể hiện trong đêm mùa xuân. Trong đêm mùa xuân ấy, tâm trạng của Mị phát triển theo những cung bậc tình cảm khác nhau, cung bậc sau cao hơn cung bậc trước. Ban đầu, Mị nghe tiếng sáo Mèo quen thuộc, Mị nhẩm thầm bài hát người đang thổi rồi Mị uống rượu và nhớ lại kỷ niệm đẹp thời xa xưa... Mị ý thức được về bản thân và về cuộc đời rồi Mị muốn đi chơi. Nhưng sợi dây thô bạo của A Sử đã trói đứng Mị vào cột. Thế nhưng sợi dây ấy chỉ có thể "trói" được thân xác Mị chứ không thể "trói" được tâm hồn của một cô gái đang hoà nhập với mùa xuân, với cuộc đời. Đêm ấy thật là một đêm có ý nghĩa với Mị. Đó là đêm cô thực sự sống cho riêng mình sau hàng ngàn đêm cô sống vật vờ như một cái xác không hồn. Đó là một đêm cô


vượt lên uy quyền và bạo lực đế sống theo tiếng gọi trái tim mình. Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục sống kiếp đời trâu ngựa. Thế nhưng viết về vấn đề này, Tô Hoài khẳng định: cái khổ cái nhục mà Mị gánh chịu như lớp tro tàn phủ khuất che lấp sức sống tiềm tàng trong lòng Mị. Và chỉ cần có một luồng gió mạnh đủ sức thổi đi lớp tro buồn nguội lạnh ấy thì đốm lửa ấy sẽ bùng cháy và giúp Mị vượt qua cuộc sống đen tối của mình. Giá trị nhân đạo của tác phẩm ngời lên ở chỗ đó. Và cuối cùng, luồng gió ấy cũng đến. Đó chính là những đêm mùa đông dài và buồn trên núi rừng Tây Bắc đang về. Mùa đông rét buốt như cắt da cắt thịt, vì thế đêm nào Mị cũng ra bên ngoài bếp lửa để thổi lửa hơ tay. Trong những đêm đó Mị gặp A Phủ đang bị trói đứng chờ chết giữa trời giá rét. Thế nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay "dù A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi". Tại sao Mị lại lãnh cảm, thờ ơ trước sự việc ấy? Phải chăng việc trói người đến chết là một việc làm bình thường ở nhà thống lý Pá Tra và ai cũng quen với điều đó nên chẳng ai quan tâm đến. Hay bởi Mị "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi" nên Mị lãnh đạm, thờ ơ trước nỗi đau khổ của người khác. Một đêm nữa lại đến, lúc đó mọi người trong nhà đã ngủ yên cả rồi, Mị lại thức dậy đến bếp đốt lửa lên để hơ tay. Lửa cháy sáng, "Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại". Đó là dòng nước mắt của một kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết đến rất gần. Chính "dòng nước mắt lấp lánh ấy" đã làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong lòng Mị. Lòng Mị chợt bồi hồi trước một người, trùng cảnh ngộ. Đêm mùa xuân trước Mị cũng bị A Sử trói đứng thế kia, có nhiều lần khóc nước mắt rơi xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được. Mị chợt nhận ra người ấy giống mình về cảnh ngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất dễ cảm thông cho nhau. Mị nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia, “chúng nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong cài nhà này”. Lí trí giúp Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác”. Việc trói người đến chết còn các hơn cả thú dữ trong rừng. Chỉ vì bị hổ ăn mất một con bò mà một người thanh niên khoẻ mạnh, siêng năng, say sưa với cuộc đời đã phải lấy mạng mình thay cho nó. Bọn thống trị coi sinh mạng của A Phủ không bằng một con vật. Và dẫu ai phạm tội như A Phủ cũng bị xử phạt như thế mà thôi. Nhớ đến những chuyện ngày trước, trở về với hiện tại, Mị đau khổ cay dắng cho thân phận của mình: “Ta là thân đàn bà chúng nó đẵ bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết chờ ngày rũ xương ở đây thôi”. Nghĩ về mình, Mị lại nghĩ đến A Phủ “có chừng này chỉ đêm nay thôi là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Người kia việc gì mà phải chết như thế. A Phủ…. Mị phảng phất nghĩ như vậy”. Thật sự, chẳng có lí do gì mà bọn thống lí Pá Tra bắt A Phủ phải chết vì cái tội để mất một con bò! Trong đầu Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh A Phủ bỏ trốn và chính Mị sẽ là người chết thay cho A Phủ trên cái cột tưởng tượng đó. Thế nhưng, Mị vẫn không thấy sợ, sự suy tưởng của Mị là có cơ sở của nó. Cha con Pá Tra đã biến Mị từ một con người yêu đời, yêu cuộc sống, tài hoa chăm chỉ, hiếu thảo, tha thiết với tình yêu thành một con dâu gạt nợ, một kẻ nô lệ đúng nghĩa, chúng đã tàn ác khi trói một người đàn bà ngày trước đến chết thì chẳng lẽ chúng lại không đối xử với Mị như thế ư? Như vậy, chứng kiến “dòng nước mắt lấp lánh” của A Phủ, tâm trạng của Mị diễn biến phức tạp. Mị thông cảm với người cùng cảnh ngộ, Mị nhớ đến chuyện người đàn bà ngày trước, lí trí giúp Mị nhận ra bọn lãnh


chúa phong kiến thật độc ác, Mị xót xa trước số phận của mình rồi Mị lại nghĩ đến A Phủ; sau đó Mị lại tưởng tượng đến cái cảnh mình bị trói đứng… Một loạt nét tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến với hành động: dùng dao cắt lúa rút dây mây cởi trói cho A Phủ. Đó là một việc làm táo bạo và hết sức nguy hiểm nhưng nó phù hợp với nét tâm lí của Mị trong đêm mùa đông này. Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng không ngờ mình dám làm một chuyện động trời đến vậy. Mị thì thào lên một tiếng “đi ngay” rồi Mị nghẹn lại. A Phủ vùng chạy đi còn Mị vẫn đứng lặng trong bóng tối. Ta có thể hình dung được nét tâm lí ngổn ngang trăm mối của Mị lúc này. Lòng Mị rối bời với trăm câu hỏi: Vụt chạy theo A Phủ hay ở đây chờ chết?. Thế là cuối cùng sức sống tiềm tàng đã thôi thúc Mị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ. Trời tối lắm nhưng Mị vẫn băng đi. Bước chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của bọn lãnh chúa phong kiến đương thời đã đè nặng tâm hồn Mị suốt bao nhiêu năm qua. Mị đuổi kịp A Phủ và nói lời đầu tiên. Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu năm c��m nín: “A Phủ. Cho tôi đi! Ở đây thì chết mất”. Đó là lời nói khao khát sống và khát khao tự do của nhân vật Mị. Câu nói ấy chứa đựng biết bao tình cảm và làm quặn đau trái tim bạn đọc. Đó chính là nguyên nhân - hệ quả của việc Mị cắt đứt sợi dây vô hình ràng buộc cuộc đời của mình. Thế là Mị và A Phủ dìu nhau chạy xuống dốc núi. Hai người đã rời bỏ Hồng Ngài - một nơi mà những kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít, còn nỗi buồn đau, tủi nhục thì chồng chất không sao kể xiết. Hai người rời bỏ Hồng Ngài và đến Phiềng Sa, nhưng những ngày phía trước ra sao họ cũng chưa biết đến… Rõ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Chính nó đã giúp Mị vượt lên trên số phận đen tối của mình. Mị cứu A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tự cứu lấy bản thân mình. Qua đoạn trích trên, Tô Hoài đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ miền núi nói riêng và những người phụ nự Việt Nam nói chung. Tô Hoài đã rất cảm thông và xót thương cho số phận hẩm hiu, không lối thoát của Mị. Thế nhưng bằng một trái tim nhạy cảm và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đã phát hiện và ngợi ca đốm lửa còn sót lại trong trái tim Mị. Tư tưởng nhân đạo của nhà văn sáng lên ở đó. Đồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng đã khẳng định được chân lí muôn đời: ở đâu có áp bức bất công thì ở đó có sự đấu tranh để chống lại nó dù đó là sự vùng lên một cách tự phát như Mị. Quả thật qua đó tác phẩm này giúp ta hiểu được nhiều điều trong cuộc sống. Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng và tập “Truyện Tây Bắc” nói chung, ta hiểu vì sao Tô Hoài lại thành công trong thể loại truyện ngắn đến như vậy. Nét phong cách nghệ thuật: màu sắc dân tộc đậm đà chất thơ chất trữ tình thấm đượm, ngôn ngữ lời văn giàu tính tạo hình đã hội tụ và phát sáng trong truyện ngắn này. Tác phẩm “Truyện Tây Bắc” xứng đáng với giải nhất truyện ngắn - giải thưởng do Hội nghệ sĩ Việt Nam trao tặng năm 1954 - 1955. Và “Vợ chồng A Phủ” thực sự để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn đọc bởi những giá trị nghệ thuật, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của nó. Truyện ngắn này quả là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Tô Hoài. Đối với riêng em, truyện “Vợ chồng A Phủ” giúp em cảm thông sâu sắc trước nỗi khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến miền núi, từ đó giúp em ngày càng trân trọng khát vọng của họ hơn. Đây quả là một tác phẩm văn chương đích thực bởi nó đã góp phần nhân đạo hoá tâm hồn bạn đọc như Nam Cao đã quan niệm trong truyện ngắn “Đời thừa”.


NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ Đề 1: Cảm nhận của anh chị về hình tượng ông lái đò cùng nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Tuân trong “Người lái đò sông Đà” Nguyễn Tuân là nhà văn có phong cách sáng tạo độc đáo , bởi vậy mỗi tác phẩm ông viết ra ngoài cái hình thức ấn tượng thì nội dung của nó cũng để lại những ám ảnh khó phai. Nếu trước cách mạng tháng 8 năm 1945 ông để lại dấu ấn trong lòng văn Việt với tác phẩm “Vang bóng một thời”, thì giai đoạn sáng tác sau năm 1945 ông tiếp tục để lại dấu ấn trên văn đàn bằng Tùy bút Sông Đà (1960). Và trong tập văn này “Người lái đò Sông Đà” (1958) là tác phẩm xuất sắc nhất. Nó để lại dấu ấn sâu sắc về một con sông vùng tây bắc “hung bạo, trữ tình”, nhưng trước hết, điều ám ảnh nhất vẫn là hình tượng người lái đò “một tay lái ra hoa”; một chiến binh đẹp như truyền thuyết hiên ngang trên thác dữ . Đi vào thế giới đời thường để tìm đề tài, nhưng Nguyễn Tuân thường hướng ngòi bút của mình chạm đến những cái dị biệt độc đáo. Cái mà ông đã cảm nhận và viết thành văn là những cái rất đỗi bình thường nhưng đồng thời lại rực rỡ và sáng chói cực đỉnh, một sự phi thường giữa cuộc sống tưởng như không thể có những sự kiện, những địa danh, những nhân vật... như vậy. Có thể dễ dàng nhận thấy điều này trong thế giới nhân vật mà Nguyễn Tuân đã sáng tạo. Đó là một cụ Kép, lông mày bạc, tóc bạc, râu bạc, thấp thoáng giữa vườn lan "nguyện đem cái quãng đời xế chiều của một nhà nho để phụng sự hoa thơm cỏ quý" (Hương Cuội). Một cụ Ấm, triết nhân ngồi tính bước đi của thời gian, và "nhận thấy có một mùi thơ và một vị triết lí" trong hương thơm của một chén trà (Chén trà sương). Rồi khi đọc “Chữ người tử tù” với người hùng Huấn Cao, viết thư pháp trong ánh đuốc bừng sáng trong ngục tối, mang "những cái hoài bão tung hoành của một đời con người"...giữa đêm giao thời của sự sống và chết. Trung thành với quan niệm sáng tạo, với mô tip riêng của mình như vậy, Nguyễn Tuân trong một chuyến đi thực tế tại vùng sông Đà Tây Bắc, nhãn quan ông đã bắt gặp được mẫu hình và hồn văn ông đã tìm được tiếng rung khi diện kiến một người lái đò người Thái (Tây Bắc) và cuộc mưu sinh của ông. Và từ đây, bút văn của Nguyễn Tuân đã xây dựng được hình tượng người lái đò sông Đà ẩn chứa tính cách vừa dữ dội của một chiến binh chinh phục thiên nhiên hung dữ, vừa là con người cực kì tài hoa mang cốt cách nghệ sĩ. Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, người lái đò hùng dũng, oai phong như chạm khắc trên nền hình ảnh Sông Đà réo sóng hung dữ bạo liệt. Dường như nhà văn không bỏ sót một chi tiết nào cần miêu tả về nhân vật chính của mình. Mỗi chi tiết đều gợi được sự liên tưởng về cái phi thường hiện ra sừng sững thuyết phục. Bước vào cái tuổi 70, đầu tóc bạc trắng, thân hình ông lái đò vẫn đẹp như một pho tượng tạc bằng đá cẩm thạch. Nước da ánh lên chất sừng chất mun. Cánh tay rắn chắc trẻ tráng “Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng”. Cặp mắt tinh anh, nhãn lực nhìn xa vời vợi. Ngoại hình của người lái đò còn được miêu tả gắn với những dấu tích trên thân thể và mỗi dấu tích là một thành tích, một sự kiện lịch sử của cuộc đời ông lão đã thầm


lặng lập lên. Trên ngực của ông nổi lên một số "củ nâu" thương tích trên "chiến trường Sông Đà" – một "thứ Huân chương lao động siêu hạng". Khó có thể trộn lẫn nhân vật được miêu tả này với những người 70 tuổi khác, làm nghề nghiệp khác. Một ngoại hình gắn với sức lực phi thường với cuộc sống chèo đò vượt thác đã thấm vào trong máu thịt và thể hiện ra trong từng động tác ngay khi cuộc sống đang diễn ra bình thường. Ông lái đò là hình ảnh một người lao động mà sông nước đã in dấu vào trong từng chi tiết ngoại hình. Điều quan trọng là thông qua cách miêu tả này nhà văn đã ngầm gửi một thông điệp tới người đọc là nhân vật của ông mang sự khác thường ở chỗ nó không chỉ ở ngoại hình mà còn ở ý chí, nghị lực hướng tới , mà ở đây tuổi tác không làm mất đi sức sống mạnh mẽ và lòng yêu mến gắn bó với công việc. Người lái đò chứa đựng vẻ đẹp tâm hồn tính cách của một chiến binh- nghệ sỹ chinh phục thác ghềnh, thể hiện con người của những trải nghiệm. Sau hơn mười năm chèo đò và chỉ huy một con thuyền có 6 mái chèo đã ngược xuôi sông Đà trăm chuyến, chở da trâu, xương hổ, chè, cánh kiến về xuôi, ông nắm vững từng con thác, cái ghềnh. Chính quãng thời gian thử thách, đối mặt với thiên nhiên và sinh tử ấy đã tạo thành tri thức và tính cách trong Ông lão: “trí nhớ ông được rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở . Sông Đà, đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những cái chấm than chấm câu và những đọan xuống dòng ”. Nhờ có tri thức ấy mà ông lão đã chiến thắng sự hung dữ của sông Đà và trong âm vang “chiến trận” ấy người lái đò lại trở thành vị tướng đối mặt với hung dữ và chiến thắng nó bằng những mẹo mực rất “nhà binh” : “ông lái đã nắm chắc được binh pháp của thần sông, thần đá. Ông đã thuộc qui luật phục kích của lũ đá”. Sự rèn luyện lao khổ và vượt gian nan đã biến người lái đò thành con người có kỹ năng kỹ xảo lao động tuyệt hảo tới mức tác giả ngợi ca như nghệ sỹ điêu luyện với "tay lái ra hoa" đã từng vượt qua bao trùng vây thạch trận, giao phong sinh tử với "lũ đá nơi ải nước". Và những dòng văn của Nguyễn Tuân đã khắc họa thật sinh động hình ảnh của một con người gắn bó với lao động, yêu nghề sông nước, từng trải và giàu kinh nghiệm. Cái hay của những tình tiết miêu tả là tái hiện được ông lão lái đò và dòng sông dữ thô ráp thành tràn đầy chất nghệ sỹ trong trường thiên anh hùng ca chiến trận sông nước thiên nhiên. Rõ ràng, yếu tố hiện thực đã được nghệ sỹ hóa tràn đầy chất thơ kiêu dũng. Và chính vì vậy tạo ra sức hút cho người đọc và sự khác biệt của Nguyễn Tuân. Bên cạnh đó tác giả còn xây dựng thành công ông lái đò - Con người thông minh, dũng cảm và nghệ sỹ.Cuộc sống của người lái đò sông Đà là một cuộc chiến đấu giành giật sự cái sống từ tay tử thần rình rập nơi những con thác luôn ẩn tàng nỗi hiểm nguy. Vẻ đẹp dữ dội này trong phẩm chất người lái đò, được nhà văn tập trung bút lực miêu tả qua những tình tiết vượt thác. Thông qua những tình tiết này, Nguyễn Tuân đã dựng lên hình ảnh tài hoa nghệ sỹ chan hòa xuyên thấm vào với vẻ đẹp kiêu hùng của hình ảnh chiến sỹ. Vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của ông lái đò gắn sự tài ba dũng mãnh của một vị thuyền trưởng dày dạn kinh nghiệm thủy chiến. và đồng thời song hành với bản lĩnh chiến đấu , tinh thần dũng cảm phi thường. Xuôi theo dòng văn, người đọc cảm nhận rất rõ nét hình ảnh người lái đò lúc nào cũng ngạo nghễ vươn lên trên cái nền thiên


nhiên hung dữ ghê rợn. Thiên nhiên ác hiểm cố nhấn chìm số phận của con người, dập vùi họ đẩy họ đến chỗ chết, nhưng con người luôn quật cường và chiến thắng không chỉ bằng cơ bắp mà bằng cả trí tuệ bằng tình yêu công việc, nhờ đó hình ảnh được khắc họa trở lên tỏa sáng, sừng sững. Ở trùng vây thứ nhất, ông lái đò xung trận với khí thế nghênh chiến quyết thắng: "Thạch trận dàn bày vừa xong thì cái thuyền vụt tới". Cảnh hỗn chiến ác liệt diễn ra. Những hòn đá "bệ vệ oai phong lẫm liệt" được nước thác "reo hò làm thanh viện" chúng liều mạng xông vào mà "đá trái” mà “ thúc gối vào bụng và hông thuyền… Có lúc chúng đội cả thuyền lên". Nguy hiểm là vậy nhưng ông lái đò vẫn bình tĩnh “hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng”. Ngay cả lúc bị con thủy quái này đánh miếng đòn hiểm nhất “bóp chặt lấy hạ bộ” đau điếng nhưng vị thuyền trưởng vẫn “ hai chân vẫn kẹp lấy cuống lái” dù mặt méo bệch vì đau đớn nhưng tiếng chỉ huy của ông vẫn sắc lạnh, tỉnh táo, đưa con thuyền thoát khỏi nguy hiểm. Trùng vây thứ hai vô cùng hiểm trở, bố trí nhiều cửa tử hơn: "Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá". Ông lái đò bắt đầu cuộc tấn công bằng cách "nắm chặt được cái bờm sóng đúng luồng rồi" ông cho con thuyền "phóng nhanh vào cửa sinh mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy". Bọn tướng đá, đứa thì "ông tránh mà rảo bơi chèo lên", đứa thì bị "ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến". Cuối cùng ông thắng còn bọn đá tướng thất bại thảm hại đưa cái mặt "tiu nghỉu, xanh lè thất vọng". Trùng vây thứ ba là một không gian của trận địa tiêu diệt đối phương: bên phải bên trái đều là "luồng chết cả". Bên cạnh đó là cahs thức bố phòng tấn công như trong chiến trận: "bọn đá hậu vệ" canh cửa hòng "bắt chết" cái thuyền. Trên cái phông nền chiến trận cẩn mật và đầy thách thức ấy, Ông lái đò hiện dậy như vị tướng cầm quân với chi9ến thuật tài ba. Ông mưu trí "phóng thẳng con thuyền", "chọc thủng" trùng vây rồi "vút qua cổng đá cánh mở cánh khép". Chiếc thuyền như một mũi tên tre "vút, vút" xuyên nhanh qua hơi nước. Chiến thắng! Dường như tác giả tập trung cao độ bút lực vào đoạn văn này. Những ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được tác giả sử dụng sáng tạo gợi lên cảm giác mãnh liệt đầy ấn tượng. Cảnh vượt thác là bài ca chiến trận hào hùng. Nguyễn Tuân đã tung ra một đội quân ngôn ngữ thật hùng hậu, đa dạng, biến ảo thần kì với liên tục những phép tu từ vô cùng sinh động : so sánh ngầm , nhân hóa , cường điệu … Câu chữ tuôn chảy ào ạt , điệp điệp trùng trùng tạo ra một bức tranh chién trận hòanh tráng về không gian, ấn tượng về hình ảnh hiểm nguy, gay cấn về tình huống… Kết hợp với phong cách sử dụng nhiều loại hình nghệ thuật, trong đoạn viết này Nguyễn Tuân đã cho thấy cách viết của ông như kịch bản phim và qua bàn tay đạo diễn, nó tạo ra sự sống động hồi hộp âu lo, thán phục… với biết bao cảm xúc nở trong lòng người đọc. Cuộc vượt thác thật ngoạn mục tưởng như không cân sức khi lâm trận, nhưng cuối cùng phần thắng đã thuộc về con người nhờ sự thông minh và dũng cảm. Và từ đó, một hình ảnh bừng sáng : ông lái đò oai phong lẫm liệt như một vị danh tướng, trí dũng song toàn, quyết liệt và quyết đoán, uyển chuyển linh hoạt như một nghệ sỹ xử lý tình huống với trái tim khát khao chinh phục… đã lập thành hào quang chiến thắng. Đối với người lái đò, hiểm nguy trên dòng sông cũng chính là một phần trong cuộc sống thường nhật của ông, được ông chấp nhận như một tất yếu ; tác giả đã làm cho hình ảnh người lái đò lấp lánh hơn, giàu chất nghệ sĩ hơn từ công việc đối mặt với hiểm


nguy đã trở thành bình thường. Khi vượt qua gian nguy , “sóng nước lại tan xèo xèo trong trí nhớ “sông nước lại thanh bình . Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá , nướng ống cơm lam , và tòan bàn tán về cá anh vũ , cá dầm xanh … Cũng chẳng thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua ”. Đoạn viết về đêm hang đá tràn ngập chất trữ tình bên lửa cháy và có cả những câu chuyện đời thường ở quá khứ ở phía trước nhưng tuyệt nhiên không có hồi ức về hiểm nguy mà tất cả đều lãng mạn ngọt ngào. Điều ấy như một thứ khí chất, một tính cách cấu thành con người ông lái. Nó khác biệt với người bình thường mỗi khi đối mặt nguy hiểm vẫn phải toan tính âu lo; và khi vượt qua rồi vẫn cảm thấy bất an vẫn hồi hộp mỗi khi nhớ về. Và tụ lại trong con người ông lái một phẩm chất kép : phong thái nghệ sỹ và tính cách người anh hùng sông nước. Con người mà trái tim nghệ sỹ đập thầm lặng nhưng mạnh mẽ trong cơ thể thép, ý chí thép. Nguyễn Tuân đã thành công trong việc xây dựng hình tượng nhân vật ông lái đò.Văn chương chính là phản ánh cuộc sống bằng hình tượng. Ðặc điểm cơ bản của hình tượng văn chương là sự thống nhất giữa tính cá biệt, cụ thể và khái quát. Và vì điển hình là khái niệm xác định chất lượng hình tượng, cho nên một hình tượng văn chương có tính khái quát cao và tính cụ thể đến mức độc đáo thì hình tượng trong đó trở thành điển hình. Soi chiếu vào thực tiễn “Người lái đò sông Đà” có thể đánh giá Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công một hình tượng điển hình. Người lái đò trước hết đã thể hiện cái “cá biệt” rất rõ nét, đó là một con người cụ thể làm nghề lái đò chuyên vượt thác sông Đà ở Lai Châu. Hoạt động của nhân vật trong không gian thời gian xác định với những hành động suy nghĩ rất riêng không trộn lẫn. Tuy nhiên, bối cảnh viết truyện vào năm 1958, xu thế văn học Hiện thực XHCN giai đoạn này đang tập trung vào chủ đề xây dựng cuộc sống mới và con người mới. Ngòi bút văn chương của Nguyễn Tuân đã rất tinh tế khi xây dựng được một điển hình về con người mới âm thầm tồn tại lao động chống lại thiên nhiên hung dữ mưu sinh và tô đẹp cuộc sống. Chính vậy, hình ảnh Ông lái đã mang tính phổ quát (đặc điểm thứ 2 của hình tượng), để trở thành hình tượng điển hình. Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân là con người vô danh, nhưng ông thực sự đáng tôn vinh, vì có những phẩm chất của con người lao động chân chính. Và vẻ đẹp của con người lao động, con người vô danh được coi là khám phá của Nguyễn Tuân khi viết về cuộc sống mới, con người mới. Qua hình tượng nhân vật trong tác phẩm có thể hình dung trên các miền đất thiên nhiên hung dữ có hàng nghìn hàng vạn những con người quả cảm và nghệ sỹ như người lái đò dòng sông cuối trời Tây Băc họ có mặt sống và chiến đấu trên khắp mọi vùng đất tổ quốc Việt Nam. Đó cũng là những con người được khắc họa trong “Đất rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi : Dì Tư béo, Ông lão bán rắn, Phường săn cá sấu; Và cũng là những con người như: Chín Kiên, ông Sáu già trong “Rừng U Minh” của Nguyễn Văn Bổng… họ đã đối mặt với thiên nhiên hung dữ, tận dụng sức mạnh thiên nhiên làm lên cuộc sống và tham gia chiến đấu chống kẻ thù ở miền Nam giai đoạn này. Với văn học nước ngoài, Người lía đò sông Đà có những nét tương đồng với nhân vật ông già đánh cá trong “Ông già và biển cả” của Hêminguây và hàng loạt những nhân vật đấu tranh sinh tồn trong các chuyện ngắn của Jăc Lơn-đơn.


Sáng tạo hình tượng người lái đò, Nguyễn Tuân đã thể hiện thái độ yêu mến, tự hào và cảm phục trước những con người lao động bình dị nhưng tiềm ẩn “chất vàng mười” quí giá của Tổ quốc và vùng Tây Bắc. Cũng bằng hình tượng nhân vật người lái đò, Nguyễn Tuân đã mang đến thông điệp : chủ nghĩa anh hùng đâu phải tìm kiếm đâu xa,nó có ngay trong cuộc sống đời thường ở những vùng khuất lấp. và những người bình dị có trí dũng tài ba họ có thể tạo hình tạc mẫu cho nghệ thuật văn chươn Đề 2: Cảm nhận của anh (chị )về hình tượng con sông đà được Nguyễn Tuân miêu tả trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” Đề 3: Điểm giống và khác nhau giữa sông Đà trong tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân và dòng sông Hương trong tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường Từ xưa đến nay thiên nhiên luôn là một nguồn cảm hứng vô tận với các nhà thơ, nhà văn làm đề tài sáng tác. Nếu như những thi nhân, văn nhân trung đại hướng tâm hồn mình với mây, hoa, tuyết, nguyệt, cầm, kì, thi, tửu- những thú vui tao nhã ở đời thì những tác giả hiện đại lại hướng ngòi bút của mình về cảnh sắc thiên nhiên của đất nước, của con người trong thời đại đổi mới. Họ luôn tìm thấy trên quê hương có những vùng núi non tuyệt đẹp, những di sản thiên nhiên đáng để con người trân trọng, luyến lưu. Và sông nước chính là một trong những cảnh thiên nhiên tươi đẹp ấy, dòng sông với dòng nước chảy, với lịch sử hình thành cũng như những đặc điểm độc đáo về địa lý đã khơi gợi trong lòng các nhà văn những cảm xúc dạt dào nhất khiến họ phải cầm bút và sáng tạo nghệ thuật. “Người lái đò Sông Đà” –Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” – Hoàng Phủ Ngọc Tường được ra đời từ chính sự thôi thúc trước cái đẹp của các nhà văn. Tuy được sáng tác ở những khoảng thời gian khác nhau nhưng ở cả hai tác phẩm đều tái hiện thành công vẻ đẹp trữ tình, đằm thắm của những dòng sông quê hương. Viết về đề tài sông nước đã có nhiều bài thơ, bài văn rất thành công. Ta đã được chiêm ngưỡng một dòng sông mênh mông, hoang vắng, buồn man mác thấm đượm nỗi nhớ nhà trong “ Tràng giang” của Huy Cận hay một khung cảnh đìu hiu, cách biệt của thiên nhiên sông nước Kinh Bắc trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm. Nếu những bài thơ trên chỉ là điều kiện, chỉ là cái cớ để các nhà thơ bày tỏ lòng mình thì đến với “Người lái đò sông Đà” và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” người đọc mới cảm nhận được rõ nét về một tác phẩm viết về dòng sông thực sự. Dưới ngòi bút của các nhà văn hình ảnh dòng sông “độc bắc lưu” và hình ảnh dòng sông của xứ Huế mộng mơ hiện lên mang nhiều nét chung độc đáo. Cả hai nhà văn đều khắc họa hình tượng dòng sông với vẻ đẹp, dáng vẻ phong phú, đa dạng ở nhiều khoảng thời gian, không gian,với điểm nhìn khác nhau. Dòng sông Đà trước tiên được Nguyễn Tuân có lúc nhìn ngắm như một người xa lạ, có lúc lại như một cố nhân thân thuộc; có khi ngắm nhìn sông Đà từ trên cao , khi lại tiến đến cận cảnh để nhận ra rõ hơn vẻ đẹp của nó. Về thời gian, sông Đà được nhà văn chiêm ngưỡng ở cả bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông- mỗi mùa lại đem đến cho tác giả những xúc cảm, ấn tượng riêng. Qua đó nhà văn muốn đưa đến cho người đọc một cái nhìn đa dạng, toàn diện về vẻ đẹp của con sông yêu thương. Với dòng sông Hương , Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng thể hiện thành công vẻ đẹp hoàn chỉnh về nhiều góc độ của nó. Nhà văn đã


ghi lại được vẻ đẹp phong phú của sông Hương lúc ở thượng lưu, ở ngoại vi, ở giữa lòng thành phố Huế. Và như vậy dường như vẫn chưa đủ, ông còn mang đến cho người đọc một cái nhìn đầy đủ hơn về sông Hương qua vẻ đẹp trong lịch sử, cuộc đời và thi ca. Có thể nói, cả hai nhà văn đã tái hiện thật độc đáo và đa dạng vẻ đẹp của dòng sông gắn bó tha thiết với mình qua nhiều phương diện khác nhau. Chính điều đó đã tạo nên sức hấp dẫn, sự lôi cuốn cho người đọc, để lại trong họ nhiều ấn tượng đậm nét. Để có được tác phẩm hay như vậy, để làm nổi bật được vẻ đẹp trữ tình của hình tượng dòng sông đó, tất cả đều phải trải qua ngòi bút tài hoa, uyên bác của các nhà văn. Ở mỗi nhà văn lại có cách diễn đạt và cảm nhận riêng, song họ lại bắt gặp, đồng điệu tâm hồn trong sự khả năng quan sát tinh tế thông qua những liên tưởng, so sánh đầy tính tạo hình, biểu cảm. Vẻ đẹp của dòng sông cũng vì thế mà càng đậm nét hơn, ấn tượng hơn. Cả hai con sông đều được ví như những người con gái trẻ trung mang trong mình những vẻ đẹp trong sáng, tinh khôi “ Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình; đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai” ; “người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại”… Bằng vốn hiểu biết phong phú, bằng sự liên tưởng, tưởng tượng độc đáo các nhà văn đã vẽ lên bức tranh thiên nhiên miền sông nước với vẻ đẹp trữ tình đằm thắm tạo nên ấn tượng mạnh mẽ trong tâm hồn người đọc đồng thời làm sống dậy trong họ tình cảm yêu thương, niềm tự hào với vẻ đẹp của quê hương, xứ sở, của Tổ quốc. Bên cạnh những nét chung độc đáo, vẻ đẹp trữ tình của hai con sông còn mang những nét riêng vô cũng đặc sắc. Đầu tiên là vẻ đẹp của dòng sông Đà. Con Sông Đà hùng vĩ dài trên năm trăm cây số ,ở nơi thượng nguồn nó mang một vẻ đẹp hào hùng và thách thức, vậy mà vượt qua đoạn thượng nguồn dòng sông hoàn toàn mang bộ mặt khác: thơ mộng, trữ tình, thanh bình, yên ả; nó giống như một cô thiếu nữ xinh đẹp trút bỏ cái vẻ “đỏng đảnh” để trở về với vẻ đẹp dịu dàng lãng mạn của mình- một nét tính khác của Sông Đà đươc Nguyễn Tuân dùng ngòi bút tài hoa để miêu tả mang đậm chất chữ tình. Và cũng giống như con Sông Đà khi hung bạo, nó được con người luôn khát khao tìm kiếm cái đẹp kia miêu tả ở nhiều góc độ. Lúc thì nhà văn nhìn con sông từ trên tàu bay, từ trên cao, có lúc lại nhìn qua đám mây mùa xuân, khi nhìn qua đám mây mùa thu, có khi tác giả cảm nhận dòng sông bằng nỗi nhớ của cố nhân, gặp thì vui mừng, xa thì nhớ nhung. Cũng có khi bằng đôi mắt lịch sử, của hồi ức, của quá khứ, và ở điểm nhìn, con Sông Đà lại có một vẻ đẹp khác nhau. Khát khao tìm đến một cái vẻ đẹp mới hoàn mĩ cùng bản tính của một người nghệ sĩ luôn mong muốn tìm kiếm sự mới lạ độc đáo đã khiến cho dòng Sông Đà trở nên sinh động “ đóng đinh” vào trong lòng người đọc. Con sông đầy ghềnh thác tung bọt trắng xóa nhìn từ trên xuống ngoằng ngoèo như một cái dây thừng. Rồi có lúc nó lại giống như một thiếu nữ mà có lẽ nói đúng hơn là một tiên nữ giáng trần khiến cho người ta phải mê mẩn: “ Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Cũng giống như rất nhiều những câu văn sau đó nữa, câu văn ngân vang lên như một bài thơ, dòng sông giờ đây trở nên thật hiền lành, nó như một nét vẽ đẹp tô điểm cho bức tranh của núi rừng Tây Bắc. Và vẻ đẹp của Sông Đà không bao giờ nhàm chán. Ở mỗi thời điểm khác nhau người ta lại thấy Sông Đà trong một dáng vẻ, hình hài khác nhau:


“Mùa xuân dòng xanh ngọc bích chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn, bực bội gì mỗi độ thu về…” Dường như ở con sông Đà không có chỗ cho những cái sơ sài, tất cả đều phải là tuyệt đỉnh. Không gian lắng đọng trong vẻ đẹp của “bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm sông Đà”. Nguyễn Tuân đã gợi lên vẻ đẹp của sông Đà bằng hai từ “gợi cảm”. Và quả thực ,vẻ đẹp thơ mộng của dòng sông khiến cho người ngoạn cảnh gặp lại có cảm giác “đằm đằm ấm ấm”, gợi biết bao thi vị. Trong vẻ đẹp của Sông Đà, họ phát hiện ra nó đẹp như một bức tranh đường thi vẽ cảnh “Yêu hoa tam nguyệt há Dương Châu “của Lý Bạch. Vẻ đẹp như trang nghiêm trong mạch cổ Đường thi, vừa lắng đọng về một thời Lí, Trần, Lê vừa bâng khuâng cảm giác về sự sống đâm chồi nảy lộc: “Thuyền tôi trôi trên sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ thời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi . Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra nhưng nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Vừa vượt qua ghềnh thác Sông Đà, ai nghĩ Sông Đà lại có một quãng sông lặng tờ đến vậy ? ấy thế mà điều đó lại đang hiện hữu. Đến quãng sông này, Sông Đà như môt dòng sông vắt qua thời gian, như một chứng nhân im lặng đang âm thầm đóng góp vẻ đẹp của mình cho đất trời. Nhà văn đã để cho dòng cảm xúc dào dạt thốt lên thành lời đối thoại với thiên nhiên,bờ bãi ven sông. Dường như con người muốn hoà mình cùng cảnh vật để chiêm ngưỡng vẻ đẹp đầy sức cuấn hút của dòng sông. Bờ sông lúc này như biến thành một bờ cổ tích. Giữa con người và thiên nhiên có một mối chan hoà, giao cảm và đồng điệu tuyệt vời: “Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương ,chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông ,bụng trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến”. Cuộc đối thoại tưởng tượng của nhà văn khiến cho thiên nhiên hiện hình với tất cả vẻ hoang sơ của nó, dường như nằm ngoài những biến động, âm thanh của cuộc sống con người. Có lẽ ở nơi đây chỉ có thiên nhiên làm chủ vẻ đẹp của chính mình và con người chỉ đóng vai trò là một “ông khách” thưởng ngoạn cái đẹp. Giữa con người và thiên nhiên có một mối quan hệ hòa hợp, thân thiện. Mọi chuyển động dường như đều cố gắng để không làm ảnh hưởng đến cái dòng chảy tĩnh lặng như thời tiền sử ấy. Qúa khứ và hiện tại đan xen khẳng định vẻ đẹp bất biến theo thời gian. Ngòi bút và ngôn ngữ của Nguyễn Tuân tràn đầy âu yếm và nâng niu. Mỗi câu chữ đều quyện chặt tình yêu với con sông thể hiện sinh động qua biện pháp nhân hóa. Màu sắc và hình ảnh hiện lên đẹp như một bức tranh. Nhà văn đã khiến cho bức tranh ấy mang một vẻ đẹp hoàn hảo, độc đáo và đầy ấn tượng. Có dòng sông, có nước sông, có cảnh vật hai bên bờ sông nhưng đó phải là con sông như một áng tóc trữ tình, bờ sông như một bờ tiền sử, như một nỗi niềm cổ tích ngày xưa. Sông Đà đẹp ! đó là điều không thể phủ nhận. Nhưng với Nguyễn Tuân dòng sông mang một vẻ đẹp hoàn mĩ. Nó không chỉ đơn giản là


một dòng sông chảy tràn qua núi rừng Tây Bắc mà trở thành một sinh thể sống động, một linh hồn tinh tế và nhạy cảm. Dòng sông Đà hùng vĩ, hiểm trở là kẻ thù, là thách thức, là một kẻ “hằng năm đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người” ; vượt qua đoạn thượng nguồn nó đã trở thành một cố nhân. Và khi trước cảnh: “Dải Sông Đà bọt nước lênh đênh- Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” Sông Đà trở thành “người tình nhân chưa quen biết”… Cứ thế, bằng ngòi bút tài hoa của mình, Nguyễn Tuân dẫn dắt người đọc chiếm lĩnh vẻ đẹp của con sông bằng tất cả niềm say mê, tình yêu với sông núi, giang san. Nhà văn đã hát lên những lời ngợi ca say sưa về vẻ đẹp trữ tình tuyệt vời của Sông Đà như một khúc ca hùng tráng, ngập tràn. CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA – NGUYỄN MINH CHÂU Phân tích hình ảnh người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu. Nguyễn Minh Châu là nhà văn được mệnh danh là vị khai quốc công thần của triều đại văn học mới, “Người mở đường tinh anh và tài năng” (Nguyên Ngọc). Ông quan niệm rằng “thiên chức của nhà văn là suốt đời đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người”. Nếu trước năm 1975, nhà văn đi tìm hạt ngọc ấy trong chất sử thi anh hùng với những tác phẩm tên tuổi như: Mảnh trăng cuối rừng, Dấu chân người lính, Cửa sông…thì sau năm 1975, nhà văn khám phá vẻ đẹp của hạt ngọc ấy trong những con người đời thường lam lũ nhọc nhằn. Người đàn bà hàng chài trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa là hình tượng tiêu biểu cho vẻ đẹp ấy. Trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho người đọc là người đàn bà làng chài - người phụ nữ vô danh với tấm lòng bao dung, vị tha, đức hi sinh . Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một người lính vừa bước ra từ cuộc chiến tranh nhiều đau thương mất mát. Phùng được dịp trở về chiến trường xưa để chụp một bức tranh cảnh biển theo lời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh đã phát hiện ra một bức tranh cảnh biển có một không hai: “trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù..Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới..toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa”. Cảnh đẹp ấy khiến cho người nghệ sĩ dường như vừa “khám phá thấy cái chân lí của sự hoàn thiện”. Nhưng đằng sau chiếc thuyền đẹp như trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng: người chồng vũ phu, thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù, người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng . Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờ sửng sốt. Nghịch cảnh ấy khiến lòng anh tan vỡ. Xuyên suốt toàn bộ câu chuyện, hầu như người đọc không hề được biết đến tên gọi của người đàn bà tội nghiệp ấy, Nguyễn Minh Châu đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà hàng chài, lúc lại gọi mụ, khi thì gọi chị ta.... Không phải nhà văn "nghèo" ngôn ngữ đến độ không thể đặt cho chị một cái tên mà dường như đằng sau cách gọi phiếm định ấy đã hé mở một cuộc đời ngang trái, một số phận bị vùi dập giữa cuộc sống bộn bề lo toan. Dường như cuộc sống chẳng có gì đáng nói nhưng trong chị lại chứa đựng nhiều điều kì diệu khiến người khác phải suy nghĩ. Người đàn bà trạc ngoài 40, hình dáng thô


kệch, rỗ mặt, khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và gợi ấn tượng người đàn bà xấu xí, mệt mỏi dường như đang buồn ngủ. Và cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, vất vả, đau khổ làm cho diện mạo chị đã xấu giờ trở nên thô kệch. Trước đây Chị vốn là con của một gia đình khá giả nhưng số phận đã không may mắn với chị. Chị mắc bệnh đậu mùa. Di chứng để lại đó là Cái xấu, cái xấu xí thô kệch đã đeo đuổi chị như một định mệnh, suốt từ khi còn nhỏ cho đến tận bây giờ. Cũng chính vì xấu xí không ai lấy nên chị trót có mang với một anh hàng chài nhà ở giữa phá vẫn hay đến nhà chị mua bả về đan lưới. Thế rồi thành vợ thành chồng. Chị xuống ở luôn dưới thuyền. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh: “có nhiều tháng biển động phải ăn cây xương rồng luộc chấm muối”. Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,... Vì túng quẫn, đói nghèo, thất học, lạc hậu. Lão chồng của chị từ một anh con trai “hiền lành nhưng cục tính” đã trở thành một kẻ vũ phu lỗ mãng. Hắn đã lấy phương pháp đánh vợ để giải tỏa những bế tắc cuộc sống. Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ: ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cứ khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, như đánh 1 con thú, với lời lẽ cay độc" Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ". “Mày” ở đây là vợ ông ta. “Chúng mày” là vợ con của ông ta. Họ là những đồng loại rất gần gũi với ông ta. Cay đắng thay cho số phận của chị. Khi bị đánh chị không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn mà coi đó là một lẽ đương nhiên. Thậm chí chị còn yêu cầu hắn “ Muốn đánh chị thì đưa chị lên bờ để đánh vì chị không muốn để những đứa con nhìn thấy cảnh bố hành hạ mẹ”. - Vì đâu chị lại chịu đựng và cam chịu như vậy? Qua câu chuyện ở tòa án huyện người đọc hiểu hơn sự bất hạnh trong cuộc đời chị. Dường như mọi sự bất hạnh của cuộc đời đều trút cả lên chị, xấu, nghèo khổ, lam lũ, lại phải thường xuyên chịu những trận đòn roi của người chồng vũ phu, tổn thương, đau xót cho các con phải nhìn cảnh bố đánh mẹ... Cái xấu đã đeo đuổi chị như định mệnh, suốt từ khi còn nhỏ. Có mang với một anh hàng chài, đến mua bả về đan lưới, rồi thành vợ chồng. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh. Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,... Người đàn bà ấy là người sâu sắc và thấu hiểu lẽ đời. Cái sự thâm trầm trong thấu hiểu lẽ đời dường như chị chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bên ngoài. Chị coi việc mình bị đánh đó như một phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình, chị chấp nhận, không kêu van, không trốn chạy. Khi được đề nghị giúp đỡ thì : “Xin các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu”; "Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được nhưng đừng bắt con bỏ nó". Chị ý thức được thiên chức của người phụ nữ :"Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn". Trong cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề. Sự cần thiết của việc có người đàn ông làm chỗ dựa, để chèo chống khi phong ba bão táp, cùng nuôi dạy các con: " Đàn bà trên thuyền chúng tôi phải sống cho con, không thể sống cho mình như trên đất được". Chị " phải sống cho con chứ không thể sống cho mình".


Có thấu hiểu được như vậy chúng ta mời hiểu hết tình cảm, tấm lòng của người đàn bà bất hạnh. Bởi nếu hiểu sự việc một cách đơn giản chỉ cần yêu cầu người đàn bà bỏ chồng là xong. Nhưng nhìn vấn đề một cách thấu suốt thì suy nghĩ và cách xử sự của người đàn bà là không thể khác được. Nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu chính là tình thương con vô bờ bến của chị. Người đàn bà ấy còn là người giàu lòng vị tha. Chị thấu hiểu nguyên nhân vì sao chồng lại trở nên như thế. Chị hiểu được trước đây chồng vốn là anh con trai cục tính nhưng hiền lành, cũng nghĩ cho vợ con nhưng rồi cuộc sống mưu sinh khổ nhọc làm cho anh tha hóa. Có thể chúng ta không chấp nhận cho hành vi tội lỗi của ông nhưng chúng ta phần nào cảm thông cho ông. Đặc biệt ở người đàn bà là chị cũng đã vẫn giữ trong tâm hồn mình ngọn lửa của hi vọng, của niềm tin để thắp lên hạnh phúc mỏng mạnh: Trong khổ đau triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi : "..vui nhất là lúc ngồi nhìn con tôi chúng nó được ăn no”; “ trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”. Đằng sau sự nhẫn nhục ấy là bản năng sinh tồn mãnh liệt và một tấm lòng yêu thương đáng thương. Người đàn bà hàng chài vừa lam lũ, chất phác, có tình thương con vô bờ bến, vừa luôn mang nỗi đau, vừa có cái thâm trầm trong việc thấu hiểu các lẽ đời. Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh. Gấp trang truyện lại người đọc còn mãi ám ảnh bởi những câu hỏi: Cuộc đời người đàn bà ấy rồi sẽ kết thúc ra sau? Những đứa con tội nghiệp của bà có được cuộc sống hạnh phúc? Đó là những vấn đề nhà văn vẫn chưa đưa ra lời giải đáp. Câu trả nằm trong cuộc sống, hành động của mỗi người chúng ta . Điều đó nói lên giá trị của tác phẩm và tầm vóc to lớn của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong văn xuôi Việt Nam hiện đại. PHÂN TÍCH NHÂN VẬT PHÙNG TRONG TRUYỆN NGẮN “CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” CỦA NGUYỄN MINH CHÂU. Nguyễn Minh Châu là nhà văn mở đường tài năng và tinh anh nhất của văn học ta hiện nay . Ông đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức thế sự. Tâm điểm những khám phá nghệ thụât của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tiền hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông . Truyện đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Phùng , một nghệ sĩ khao khát khám phá , sáng tạo ra cái đẹp , người luôn lo lắng , trăn trở , suy tư về nhân cách và đời sống con người. Truyện Chiếc thuyền ngoài xa in đậm phong cách tự sự - triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Truyện ra đời trong hoàn cảnh đất nước ta đang dần đổi mới , cuộc sống kinh tế có nhiều mặt trái , nhiều tồn tại khiến người ta phải băn khoăn . Truyện ngắn lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn (in năm 1987).


Để có thể xuất bản một bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển thật ưng ý, trưởng phòng đề nghị nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đi thực tế chụp bổ sung một bức ảnh với cảnh biển buổi sáng có sương mù. Phùng đi tới một vùng biển từng là chiến trường cũ của anh thời chống Mĩ. Sau gần một tuần lễ suy nghĩ, tìm kiếm, Phùng đã chụp được một bức ảnh thật đẹp và toàn bích. Nhưng chính từ chiếc thuyền ngoài xa thật đẹp ấy lại bước xuống một đôi vợ chồng hàng chài , lão đàn ông thẳng tay quật vợ chỉ để giải toả nỗi uất ức, buồn khổ của mình. Thằng Phác, con lão che chở người mẹ đáng thương. Ba hôm sau, Phùng lại chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ, cô chị gái tước đoạt con dao găm mà thằng em trai định dùng làm vũ khí đ��� bảo vệ mẹ. Phùng xông ra buộc lão phải chấm dứt hành động độc ác. Lão đàn ông đánh trả, Phùng bị thương, anh được đưa về trạm y tế của toà án huyện. Ở đây, anh đã nghe câu chuyện của người đàn bà hàng chài với bao cảm thông và ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Anh hiểu :không thể đơn giản và sơ lược khi nhìn nhận mọi hiện tượng của cuộc đời. Từ câu chuyện về một bức tranh nghệ thuật và sự thật cuộc đời đằng sau bức ảnh, truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” mang đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: một cách nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng. Phùng trong truyện vừa là nhân vật chính đồng thời lại là người kể chuyện . Mọi diễn biến của tác phẩm đều được soi chiếu qua lời kể và suy nghĩ của anh . Trong tác phẩm , Phùng đã có những phát hiện quan trọng về cuộc sống và nghệ thuật . Trước hết là nhận thức của Phùng về cái đẹp của nghệ thuật . Phùng đang đứng trước cảnh biển sớm khi mặt trời mới thức dậy qua đám mây ánh hồng .Phùng bộc lộ rung động trước “ Một cảnh đắt trời cho” mà “ suốt đời cầm máy chưa bao giờ thấy” . Nó đẹp “ như bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ” Cảnh đó được nhìn từ xa nên “ Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha chút hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào” . Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua đôi mắt của người nghệ sĩ .Anh khẳng định “ toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp ,một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích” .Phùng thực sự rung động “ Đứng trước nó tôi trở nên bối rối .Trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào” và “ phát hiện ra khoảnh khắc trắng ngần của tâm hồn” . Phùng là một nghệ sĩ trên đường săn tìm cái đẹp .Anh thực sự biết quan sát lựa chọn cái đẹp của thiên nhiên ,cảnh vật ,con người .Sự rung động của người nghệ sĩ đã đến đúng lúc .Sự rung động thực sự khi đứng trước cái đẹp .Cái đẹp tự nhiên “ đắt giá” , “trời cho” ,mới thực sự làm rung động lòng người . Từ đây , ta thấy người nghệ sĩ phải là người phát hiện và mang cái đẹp đến cho đời . Phùng còn nhận ra trong suy nghĩ của mình “ chẳng biết ai đó lần đầu phát hiện ra bản thân cái đẹp là đạo đức”.Đó là cái đẹp phải kết hợp với cái tâm ,cái tài kết hợp với cái thiện . Nhận thức thứ 2 của Phùng là về bạo lực gia đình . Từ chiếc thuyền đẹp như mơ , Phùng thấy bước ra một đôi vợ chồng làng chài mệt mỏi , xấu xí , thô kệch .. “ Người đàn


bà đứng lại , đưa cặp mắt nhìn xuống chân” . “ Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ ,mặt đỏ gay ,lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính nguỵ ngày xưa, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy, dùng cái thắt lưng quật tới tấp lên lưng người đàn bà , lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng ngiến vào nhau ken két .Cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn “ Mày chết đi cho ông nhờ .Chúng mày chết đi cho ông nhờ” . “ Người đàn bà có vẻ cam chịu nhẫn nhục không hề kêu một tiếng ,không chống trả ,cũng không tìm cách trốn chạy . Bạo lực trong gia đình thuyền chài ấy diễn ra thường xuyên “ Ba ngày một trận nhẹ ,năm ngày một trận nặng”. Bạo lực gia đình là vấn đề tồn tại trong xã hội .Bước sang thế kỉ XXI chúng ta vẫn chưa dứt điểm được .ở đâu có bạo lực gia đình thì nạn nhân của nó là người vợ ,người mẹ và những đứa con tội nghiệp .Bạo lực là dấu hiệu của sự đau khổ ,rạn nứt của hạnh phúc gia đình .Nó làm tổn thương bao mối quan hệ của đời sống tình cảm con người Bạo lực gia đình lại diễn ra ngay sau chiếc xe dò phá mìn của mĩ trên bãi cát .Phải chăng cuộc chiến đầu giành độc lập tự do ta đã giải quyết được trọn vẹn ,mang lại niềm vui cho mọi người . Nhưng sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng còn biết bao vấn đề đặt ra : Đói kém ,bệnh tật ,bạo lực gia đình … Từ sự thật phũ phàng trên bãi biển về chiếc thuyền đánh ca đẹp như mơ , nghệ sĩ Phùng đã dần dần vỡ ra bao điều về cuộc sống của những người dân chài lưới . Biết bao cảnh đời cứ phơi bày ra trước mắt : Một người đàn bà trạc ngoài bốn mươi , cao lớn với những đường nét thô kệch . Mụ rỗ mặt . Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới , tái ngắt và dường như đang buồn ngủ . Người đàn ông đi sau . Tấm lưng rộng và cong như một con thuyền . Mái tóc tổ quạ .Lão đi chân chữ bát ,hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ. Cặp vợ chồng làng chài là nạn nhân của cái nghèo khổ , vất vả lao động cật lực mà vẫn ngặt nghèo vì miếng cơm manh áo vì đông con . Người đàn bà thú nhận : “ giá tôi đẻ ít và chúng tôi sắm được cái thuyền rộng hơn” .Thì ra đẻ nhiều ,thuyền nào cũng từ mười đến hơn mười đứa .Đây là nguyên nhân của sự đói nghèo . Rồi thiên tai , trời làm động biển “ vợ chồng con cái phải ăn xương rồng chấm muối” Cái lí ở đời “ ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn ,cho nên phải gánh lấy cái khổ .Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống như mình trên đất được” . Do con người, do thiên tai do cái lẽ ở đời đã ăn sâu ,bám bám rễ hàng ngàn đời nay mà người đàn bà phải chịu đau khổ .Người đàn ông vì vất vả cực nhọc ,không biết đổ cái bực tức , uất ức vào đâu , chỉ còn biết trút lên người vợ . Cậu bé Phác thương mẹ nhưng hành động liều lĩnh, thiếu suy nghĩ. Nó chỉ nghĩ thương mẹ bị đánh mà sẵn sàng bỏ quên tình phụ tử. Xét cho cùng, Phác cũng là nạn nhân của bạo lực gia đình. Cứ xem cử chỉ của nó thì thấy: “ Cái thằng nhỏ lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ lên khuôn mặt người mẹ như muốn lau đi những giọt nước mắt”. Hành động nhất thời của Phác “ Như viên đạn” bắn vào người bố và lúc này “ đang


xuyên qua tâm hồn” người mẹ .Tình cảnh thật đau lòng . Làm thế nào để xoá đi những chuyện đau lòng trong gia đình này . còn có nhận thức về cách giải quyết tấn bi kịch gia đình . Cách giải quyết của chánh án toà án huyện là : Gọi người đàn bà tới cơ quan và nói bằng giọng giận dữ: “ Chị không sống nổi với lão vũ phu ấy đâu” Cách giải quyết này tuy đứng về phía người đàn bà nhưng thiếu thực tế. Đáng lẽ phải tìm hiểu nguyên nhân, phân tích cụ thể, nắm bắt yêu cầu nguyện vọng. Cách giải quyết này thực sự chưa ổn. Không thể áp dụng lí thuyết sách vở mà phải căn cứ vào thực tế đời sống. Cách gợi ý của Đâủ làm cho căn phòng “ lồng lộng gió biển tự nhiên bị hút hết không khí trở nên ngột ngạt”. Cảm giác của Phùng thấy như vậy. Pháp luật phải gắn liền với đạo đức, không thể áp dụng tuỳ tiện. Giải quyết li hôn càng làm cho gia đình rạn nứt và tan vỡ. Những đứa con rồi sẽ ra sao ? Những người làm ăn lam lũ khó nhọc ra khơi vào lộng cần phải có bàn tay của người đàn ông. Người đàn ông là trụ cột trong nhà. Cuối truyện Đẩu đi gặp người đàn ông . Phùng đi gặp thằng Phác . Kết quả như thế nào , tác giả còn bỏ ngỏ . Chỉ biết bức ảnh anh chụp có chiếc thuyền lưới vó và suy nghĩ của Phùng “ bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh ,đó là người đàn bà vùng biển cao lớn với đường nét thô kệch ,tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá ,nửa thân dưới ướt sũng ,khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm” .Phải chăng đây là sự trăn trở trước cuộc sống còn nhiều điều khó khăn , vất vả của người làm nghệ thuật . Đó là mối quan hệ giữa văn chương với cuộc đời. Truyện Chiếc thuyền ngoài xa qua những phát hiện của Phùng về vẻ đẹp của thiên nhiên , về sự thật cay đắng , đầy bi kịch , nghèo khổ của những con người lao động bằng nghề chài lưới , đã bộc lộ những lo lắng , trăn trở của nhà văn về nhân cách , đời sống con người , bộc lộ lòng thương cảm , trắc ẩn , trân trọng những vẻ đẹp trong tâm hồn người dân lao động . Truyện đậm chất tự sự , triết lý , tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu.


Cẩm vân