Page 1

NƠI BẮT ĐẦU CỦA HUYỀN THOẠI NAM QUỐC SƠN HÀ Lê Đắc Chỉnh

Nhân dịp nhà thờ Họ Lê Lục Chi được UBND tỉnh Bắc Ninh xếp hạng và cấp bằng di tích lịch sử văn hóa theo Quyết định số 1160/QĐ – UBND ngày 30/8/2012 (1), tác giả viết bài này muốn đi sâu phân tích một số bí mật ở đền Xà (đền Trương tướng quân) liên quan đến vấn đề lưu giữ và phổ biến bài thơ Nam quốc sơn hà.

Hình 1: Lễ trao Bằng Di Tích Lịch sử & Văn hóa Nhà thờ cho Trưởng các chi của Họ Lê Lục Chi

Hình 2: Bà con trong dòng họ múa hát và rước Bằng Di Tích Lịch sử & Văn hóa về Nhà thờ chính

1. Lịch sử và sự thật của bài thơ Nam quốc sơn hà Trong quá trình dựng nước và giữ nước của nhân dân ta đã xuất hiện 3 tác phẩm nổi tiếng được coi là Tuyên ngôn độc lập, đó là bài thơ Nam quốc sơn hà (NQSH) (2), bài Bình ngô đại cáo và bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945. Các bản tuyên ngôn độc lập ra đời ở ba thời kỳ khác nhau, lời lẽ, hình thức khác nhau nhưng đều có chung một mục đích là khảng định chủ quyền dân tộc, thống nhất ý chí đánh đuổi giặc ngoại xâm, tuyên bố việc giành lại nền độc lập. Trong khi một số nước chỉ có một đến hai bản tuyên ngôn độc lập, nhiều nước thậm chí không có bản nào thì Việt Nam có đến 3 bản. Chỉ riêng điều này cũng cho thấy nhân dân ta đã phải đấu tranh gian khổ như thế nào mới giành và giữ được chủ quyền đất nước như ngày nay. Riêng về bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), tập mộc bản khắc năm 1697, quyển số 3 về Nhà Lý (3) đã ghi như sau: “Vua sai Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, đến sông Như Nguyệt đánh tan được, quân Tống chết hơn 1 nghìn người. Quách Quỳ lui quân, …. Người đời truyền rằng Lý thường Kiệt làm hàng rào dọc theo sông để cố thủ. Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân có tiếng ngâm to rằng: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt 1


nhiên phân định tại thiên thư, Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”“. Nghĩa là “sông núi nước Nam vua Nam ở, rành rành định phận tại sách trời, cớ sao lũ giặc sang xâm phạm, chúng bay sẽ bị đánh tơi bời“ và “sau đó quả nhiên như thế”.

Hình 3: Ông từ bên tấm bia đá ghi bài thơ Nam quốc sơn hà trong đền thờ Trương tướng quân

Hình 4: Tấm bia đá ghi 3 câu chữ Hán trong Gia phả của họ Lê Lục Chi

Trải qua hơn 1000 năm, NQSH vẫn sống bền bỉ trong lòng nhân dân, được nhân dân ta lưu giữ tại trên 370 ngôi đền miếu dọc sông Cầu, sông Cà Lồ và sông Thương, vượt qua bao khó khăn để đi suốt chiều dài lịch sử cùng dân tộc. NQSH có ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp đấu tranh giành và bảo vệ độc lập của nhân dân ta nhiều thế kỷ qua. Năm 1973, sau khi ký chính thức hiệp định Paris về Việt Nam ông Kissinger, Trưởng đoàn đàm phán Mỹ, đã đến Hà Nội và thăm Bảo tàng lịch sử. Đứng trước bài thơ NQSH trong phòng trưng bày ông đã nhận xét bài thơ là “Điều 1 khoản 1 của Hiệp định Paris” (4). Nội dung của khoản 1 này là "Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam". Vậy là không ai có thể bác bỏ được giá trị lịch sử của NQSH. Nhưng vì sao NQSH lại phát ra từ đền Trương tướng quân? Bối cảnh lúc đó như thế nào? Ai đã đọc NQSH vào cái đêm hôm đó? Tại sao phải mất 620 năm (1077 – 1697) thì NQSH mới chính thức được ghi vào quốc sử? Trong khoảng thời gian dài đó NQSH đã tồn tại như thế nào? Để tìm ra câu trả lời ta hãy đến đền Trương tướng quân. 2. Đền Trương tướng quân - Nơi bắt đầu của huyền thoại Nam quốc sơn hà 2


Cũng như những ngôi đền khác ở nước ta, đền Trương tướng quân được nhân dân trong vùng dựng lên để thờ các vị anh hùng có công đánh giặc cứu nước. Đó là 2 tướng giỏi của Triệu Quang Phục ở thế kỷ thứ 6 tên là Trương Hống và Trương Hát. Ngôi đền nằm trên đất làng Xà thuộc xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, nên nhân dân trong vùng quen gọi là đền Xà (5), ngay gần nơi hội lưu của sông Cà Lồ với sông Cầu và chỉ cách kinh thành Thăng Long khoảng 20 km về phía Bắc. Tương truyền xưa kia có hai anh em họ Trương đã cùng nhau dựng cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược Nhà Lương, rồi lập một căn cứ kháng chiến bên bờ sông Cà Lồ tại “làng Tiên Tảo, …thấy đất có thế ỷ giốc, tiến thoái lưỡng tiện có thể dụng binh liền cho quân hạ trại…” (6). Làng Tiên Tảo ngày nay nằm cách đền Trương tướng quân khoảng 2 km, đối diện qua sông Cà Lồ thuộc xã Việt Long, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Năm Tân Tỵ (981) quân Tống sang xâm chiếm “ Lê Đại Hành và tướng quân Phạm Cự Lượng kéo quân tới sông Đồ Lỗ cự địch” (7), tại đây vua Lê mộng thấy hai thần ở trên sông đến vái và thưa rằng: “Anh em thần, tên là Trương Hống và Trương Hát, xưa kia theo Triệu Việt Vương cầm quân chinh phạt nghịch tặc mà lấy được thiên hạ. Sau, Lý Nam Đế (8) soán ngôi, nghe biết và triệu hai anh em thần về theo. Bọn thần vì nghĩa cũ không thể theo được, uống thuốc độc mà chết”. Nay hai thần hiện lên và “xin nguyện với nhà vua cùng đánh giặc này để cứu sinh linh”. Rồi thần nhân giấu mình ở trên không, lớn tiếng ngâm rằng: “ Sông núi nước Nam….”. Sau này các nhà nghiên cứu xác nhận sông Đồ Lỗ chính là sông Cà Lồ ngày nay (9). Còn theo một tài liệu khác (10) thì khi bị Lý Nam Đế truy đuổi, hai ông đã “cùng gia quyến lên thuyền chèo ra giữa dòng sông rồi tự đánh chìm thuyền mà chết. Thi thể ông Cả (Trương Hống) dạt vào cửa Vũ Bình (tức cửa sông Cà Lồ), ông Hai thì trôi vào sông Nam Bình”. Như vậy bài thơ NQSH đã được sử dụng hai lần, ở hai trận đánh lịch sử cách nhau gần 100 năm nhưng cùng một địa danh, đó là khu vực đền Trương tướng quân, trên dải đất của làng Xà. Trận đầu là của vua Lê Đại Hành ở thành Bình Lỗ (11) và trận thứ hai bên bờ sông Như Nguyệt do Thái úy Lý Thường Kiệt chỉ huy (12).

3


Hình 5: Đền Trương tướng quân (Đền Xà)

Hình 6: Sơ đồ trận Như Nguyệt năm 1077

nhìn từ phía sông Cầu (sông Như Nguyệt)

3. Chính biến Hoa Lư năm 1005 và việc tập hợp lực lượng của Hậu duệ nhà Tiền Lê ở khu vực đền Trương tướng quân Theo lịch sử nhà Tiền Lê thì vua Lê Đại Hành có 12 người con trai, trong đó 10 người được phong đất và phải đi trấn trị các vùng đất được phong (13). Ở lại Hoa Lư còn 2 người con, đó là Thái tử Long Thâu và hoàng tử thứ ba Long Việt, họ được các thiền sư, trong đó có quốc sư Khuông Việt, rèn luyện thêm để chuẩn bị cho việc kế vị sau này. Đến năm 1000 người con trưởng ốm chết, Long Việt còn nhỏ nên 4 năm sau (1004) mới được lập làm Thái Tử. Nhưng ngay năm sau tai họa đã ập xuống, vua cha bỗng đột ngột qua đời. Theo di chiếu của nhà vua, triều thần tôn Thái tử mới là Long Việt lên ngôi báu lấy hiệu là Trung Tông(14). Nhà vua lúc đó mới 22 tuổi, tình hình trở nên rối ren, vua không làm chủ được tình hình và bị giết chết. Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ toàn thư quyển I, kỷ Nhà Lê, đoạn về Trung Tông Hoàng Đế (15) đã viết: ”Sau khi Đại Hành Hoàng Đế băng, vua cùng hai vương Đông Thành, Trung Quốc và em cùng mẹ là Khai Minh Vương tranh nhau lên ngôi, giằng co 8 tháng, trong nước không có chủ. Mùa đông, tháng 10, Đông Thành Vương thua chạy vào đất Cử Long. Vua đuổi bắt, lại chạy sang Chiêm Thành, chưa đến nơi thì bị người châu Thạch Hà giết ở cửa biển Cơ La (nay là Kỳ La). Khi ấy, người nước cũng quy phụ Ngự Bắc Vương ở trại Phù Lan. Vua lên ngôi được 3 ngày thì bị Long Đĩnh giết. Bầy tôi đều chạy trốn, duy có Điện tiền quân là Lý Công Uẩn ôm xác mà khóc”. Theo chính sử thì Lê Long Đĩnh giành được ngôi vua và phải đi đánh dẹp các nơi. Vợ vua Trung Tông, nhân cơ hội đó đã cùng Ấu Chúa và một số thân thuộc theo đường hành quân đánh Tống của vua Lê Đại Hành năm xưa ngược lên phía Bắc rồi chạy về Vũ Bình Khẩu (cửa sông Cà Lồ). Từ đó họ định cư ở đây và phát triển thành một dòng họ lớn. 4


Tại Xà Đông hiện còn lưu giữ tộc phả của 6 chi thuộc hậu duệ Hoàng Đế Trung Tông, đó là các chi Lê Bá anh, Lê Danh, Lê Bá em, Lê Đắc và 2 chi khác đã bị thất truyền. Cụ Tổ của dòng họ này đã để lại 3 câu chữ Hán và dịch sang tiếng Việt như sau: “Tránh cái hiểm họa Long Đĩnh, Di chuyển gia quyến đến cửa sông Cà Lồ, Náu tung tích giấu họ tên mà lập nghiệp” (16), (17). Ông tộc trưởng của họ Lê Lục Chi này là Lê Bá Duyệt cho biết đến nay đã có 38 đời dòng họ ông sinh sống trên dải đất dọc sông Cầu này. Theo (18) thì Hoàng đế Trung Tông có húy là Long Mẫu và tự là Long Việt, vợ là Phạm Thị Duyên và con trai là Lê Long Diên. Việc giấu họ, đổi tên của hậu duệ nhà Tiền Lê ở khu vực đền Trương tướng quân đã làm cho các nhà sử học sau này phải ngạc nhiên khi thấy mất dấu vết khá nhiều hoàng tử của vua Lê Đại Hành. Họ phát hiện ra rằng: “Đến thời cuối Lý đầu Trần, mới bắt gặp nhân vật Lê Khâm. Còn suốt chặng đường từ Lý Thái Tông (Lý Phật Mã) đến Lý Chiêu Hoàng chưa rõ cảnh sinh hoạt của các con Lê Hoàn như thế nào”(13). Điều ngạc nhiên là vì sao hậu duệ Hoàng đế Trung Tông lại chọn nơi xa xôi này để “náu tung tích”? Các nhà nghiên cứu cho rằng trong số các trung thần của hoàng đế Trung Tông có nhiều người đã từng đi chiến trận với vua Lê Đại Hành, đã tham gia đắp thành Bình Lỗ nên họ biết rõ địa thế vùng cửa sông Cà Lồ. Nơi này cũng rất gần quê hương của Quốc sư Khuông Việt (19), thày dạy của Thái Tử Long Việt, nay thuộc khu vực sân bay Nội Bài. Năm đó ông đã về quê dạy học và hưởng cảnh tuổi già tại hương Bình Lỗ. Còn khu vực đền Trương tướng quân chính là vùng đất do hoàng tử thứ 7 của vua Lê Đại Hành tên là Lê Long Tung cai quản. Việc hậu duệ nhà Tiền Lê cùng các trung thần bí mật về cửa sông Cà Lồ, nơi rất gần thành Đại La cho thấy họ vẫn nuôi hy vọng khôi phục lại nhà Tiền Lê và thực hiện điều mong ước của vua Lê Đại Hành là dời đô về Đại La, nơi có nhiều điều kiện phát triển kinh tế, để xây dựng một nước Đại Cồ Việt hùng mạnh. Vậy là từ năm 1006 đã có một nhánh của hậu duệ nhà Tiền Lê mai danh ẩn tích trong vùng sông nước và rừng rậm xung quanh khu vực đền Xà (đền Trương tướng quân), tiếp tục tập hợp lực lượng và chờ thời cơ để lập lại cơ nghiệp. Cùng đi với gia quyến của vợ con Hoàng đế Trung Tông còn có các trung thần của nhà Tiền Lê, họ là những nhà sư tài giỏi, các tướng lĩnh, binh lính dũng cảm và cả những gia quyến của các hoàng tử không chịu thần phục nhà Lý. Nghĩa là không phải hậu duệ của vua Lê Đại Hành biến mất mà họ đã rút vào hoạt động bí mật và đi cùng với họ có cả bài thơ NQSH. Ngày nay chúng ta tìm được văn bản sớm nhất có ghi bài thơ NQSH là “Truyện Trương Hống, Trương Hát” trong sách Việt điện u linh của tác giả tên là Lý Tế Xuyên, xuất bản năm 1329 (20), (21). Truyện này đã ghi: “Đến đời vua Lý Nhân Tông, quân Tống sang lấn, tiến vào trong cõi. Vua sai Thái úy Lý Thường Kiệt lập trại ở ven sông để chống giữ. Một đêm quân sĩ nghe trong đền 5


có tiếng thần ngâm thơ: “Nam quốc sơn hà… thủ bại hư”. Rồi quả nhiên quân Tống bị thua, phải rút về nước”. Nội dung đoạn này giống như trong ĐVSKTT bản năm 1697, nghĩa là NQSH đã được văn bản hóa sớm hơn, vào thời vua Trần Minh Tông, cách cái đêm thần đọc bài thơ đúng 252 năm (1077 – 1329) và sau đó phải mất thêm 368 năm nữa (1329 – 1697) thì mới chính thức được ghi vào quốc sử. Câu hỏi được đặt ra ở đây là vì sao NQSH sau một thời gian dài biến mất. Đáng chú ý là qua hơn 200 năm dưới thời nhà Lý và mãi đến thời nhà Trần mới xuất hiện và lại vào đúng năm 1329 dưới thời vua Trần Minh Tông? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy tìm hiểu thêm về mối quan hệ của hậu duệ nhà Tiền Lê với các vua nhà Trần. Theo (22) thì vào cuối thời nhà Lý có một người tên là Lê Khâm, ông là một hậu duệ của vua Lê Đại Hành có công lớn giúp Trần Thừa và Trần Thủ Độ đánh tan sứ quân Nguyễn Nộn và được phong chức Thượng vị hầu. Sau này con ông là Lê Phụ Trần (tức Lê Tần) cũng trở thành một tướng tài của nhà Trần và có công cứu giá vua Trần. “Tháng giêng năm 1258, vua Trần Thái Tông định công phong tước, ban cho Lê Phụ Trần làm Ngự sử đại phu, lại đem công chúa Chiêu Thánh (tức Lý Chiêu Hoàng) gả cho”. Trần Bình Trọng (23) là con của Lê Phụ Trần với Lý Chiêu Hoàng (vị vua cuối cùng của nhà Lý), được vua ban mang họ Trần. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, ông đã hiên ngang trước mũi giáo giặc với câu nói nổi tiếng “Ta thà làm quỉ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Sau này, con gái của Trần Bình Trọng trở thành Chiêu Hiến Hoàng thái hậu, bà đã sinh ra vua thứ năm triều Trần là Trần Minh Tông (24). Vị vua này trị vì 15 năm, đến năm 1329 thì truyền ngôi cho con và tiếp tục làm Thái thượng hoàng 28 năm nữa. Dưới triều vua Minh Tông đất nước bình yên và bên ngoài đều thu phục. Ông được rất nhiều hiền thần như Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An giúp. Với điều kiện thuận lợi như vậy nên NQSH đã được văn bản hóa và ra công khai. Việc hậu duệ nhà Tiền Lê được các vua Trần phong thưởng và bài thơ NQSH được văn bản hóa cho thấy chính hậu duệ Hoàng đế Trung Tông ở khu vực đền Trương tướng quân là những người đã lưu giữ bài thơ này. Từ đó có thể đoán rằng cùng với sự xuất hiện trở lại của NQSH, bà con họ Lê Lục Chi ở làng Xà sẽ không phải “náu tung tích, dấu họ tên nữa” và được nhận lại họ cũ của mình. 4. Hậu duệ nhà Tiền Lê đã tham gia trận Như Nguyệt và cùng đọc bài thơ NQSH Thời điểm mà bài thơ được đọc lên ở đền Trương tướng quân là đầu năm 1077, khi Quách Quỳ đưa 10 vạn quân Tống tinh nhuệ tiến sát đến bờ Bắc sông Như Nguyệt và chuẩn bị vượt sông để vào san phẳng thành Thăng Long. Theo (25) thì đó là lúc đội thủy binh gồm 2 vạn quân dũng mãnh của triều đình nhà Lý do hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn chỉ huy vừa bị thua trận nặng nề phải rút lui. Cả hai hoàng tử đều tử trận. Trong khi Lý Thường Kiệt vô cùng lo lắng vì số quân nhà

6


Lý còn quá ít, chỉ bằng khoảng một nửa số quân Tống đóng bên bờ Bắc, thì ông nhận được “thiên binh” của đền Xà. Theo (10), khi Lý Thường Kiệt đóng đại bản doanh ở đền thờ Cao Sơn trên núi Yên phụ, nơi này chỉ cách đền Xà 4 km, thì “Thần Cao Sơn hiện lên mà bảo rằng: “Tướng quân hãy đến đền Xà mượn quân của Thánh Tam Giang, còn ta không có lính tráng, nhưng cũng sẽ giúp Tướng quân”. Nghe lời dặn của Cao Sơn, Lý Thường Kiệt sắm lễ tới đền Xà cầu xin Thánh Tam Giang. Tam Giang vui vẻ nhận lời và cho mượn quân chia làm hai đạo đi đánh quân Tống: đạo Cờ trắng đánh từ ngã ba Xà ngược lên tới Đu, Đuổm (Thái Nguyên), đạo Cờ xanh đánh từ ngã ba Xà xuôi xuống tận sông Lục Đầu. Thế rồi vào một đêm mưa to gió lớn được quân của Thánh Tam Giang ngầm giúp, Lý Thường Kiệt tổ chức đánh úp đồn quân Tống ở Mai Thượng. Từ trên không trung bỗng nghe văng vẳng người đọc vần thơ đanh thép “Nam quốc sơn hà…”. Quả nhiên trận ấy quân ta vừa đánh thì giặc đã tan”. Kết quả là cả một khu doanh trại tập trung đến ba, bốn vạn quân Tống do phó tướng nổi tiếng của địch là Triệu Tiết chỉ huy trên cánh đồng làng đối diện với đền Xà bị đánh tan, năm sáu phần mười bị giết chết tại trận. Chiến thắng vang dội của trận tập kích chiến lược đã buộc nhà Tống nhanh chóng rút quân về nước và chấm dứt xâm lược nước ta. Vậy là với mục đích ban đầu là để tự bảo vệ mình và xa hơn là chờ thời cơ thuận lợi khôi phục lại sự nghiệp nhà Tiền Lê, hậu duệ Hoàng đế Trung Tông đã tập hợp được một lực lượng đáng kế, bí mật hoạt động suốt dọc sông Cà Lồ và Như Nguyệt. Trong thời gian hơn 70 năm (1006 – 1077), đội quân này đã phát triển đến mức không thể dấu kín được nữa. Qua câu truyện về giấc mộng của Lý Thường Kiệt trên núi đền Yên Phụ cho thấy người dân trong vùng đã phát hiện ra. Thái úy Lý Thường Kiệt đã tự đến đền Xà, đại bản doanh của hậu duệ nhà Tiền Lê để hợp nhất lực lượng trước trận đánh lịch sử. Sau cuộc hội ngộ ở đền Xà, Lý Thường Kiệt đã huy động thêm được một đội dân binh đông đảo và không kém phần tinh nhuệ. Với lực lượng bổ xung, ông đã tạo ra tình thế bất ngờ và quyết định cho đánh thẳng vào doanh trại địch bên kia sông, kết quả là đã tiêu diệt gọn đội quân Tống hàng vạn tên trong một đêm. Qua câu chuyện về bài thơ thần được đọc ở đền Trương tướng quân (tức đền Xà) và đội quân của Thánh Tam Giang, đối chiếu với lịch sử cho thấy nội dung cơ bản của trận đánh là có thật. Đội quân của Thánh Tam Giang khi xông lên giết địch đã đọc bài thơ NQSH vang vọng cả bầu trời đêm khuya và có lẽ phải đọc to như vậy mới làm cho quân địch khiếp sợ được. Chiến thắng vang dội của trận tập kích chiến lược trên cánh đồng làng Mai Thượng (xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang) đối diện với đền Xà đã làm hé lộ sự tham gia của nhân dân ở khu vực ngã ba Xà, trong đó có hậu duệ nhà Tiền Lê. Trận Như Nguyệt đã gây thiệt hại nhân mạng rất lớn cho quân Tống, chết đến 76.600 quân và 80.000 phu. Riêng trận đánh trên cánh đồng 7


làng Mai Thượng đã diệt ba đến bốn vạn tên (25). Thất bại này đã làm cho nhà Tống mất hẳn ý chí xâm lược Đại Việt. Ngoài ra “Yên Phụ xã Linh thần sự tích” (26) cũng chép về sự tích Thánh Tam giang ngầm giúp Lý Thường Kiệt đánh quân xâm lược Tống. Sở dĩ có chiến thắng vang dội như vậy là do Lý Thường Kiệt đã đến mượn quân của Thánh Tam Giang ở đền Xà. Đội quân Thánh Tam Giang khi đó chính là những dân binh của hậu duệ Hoàng đế Lê Trung Tông. Nhưng đến đây có một câu hỏi được đặt ra là vì sao sử sách nhà Lý không đề cập gì đến trận tập kích có ý nghĩa quyết định này? ĐVSKTT (3) chỉ ghi “ quân Tống chết hơn 1 nghìn người” mà đã phải rút lui, đây chỉ là số quân địch rất nhỏ bị giết khi chúng vượt sông Như Nguyệt, tiến từ làng Xà đến vùng Yên Phụ (Yên Phong, Bắc Ninh). Mãi đến thời nhà Trần, Đại việt sử lược mới ghi về trận tập kích cánh quân của Triệu Tiết như sau: “Lý Thường Kiệt biết quân Tống sức lực đã khốn, đang đêm vượt sông tập kích, đại phá được quân Tống mười phần chết đến năm, sáu” (27). 5. NQSH trở thành huyền thoại Khi cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai còn chưa kết thúc thì nhà Lý đã phát hiện ra có một lực lượng đông đảo của hậu duệ nhà Tiền Lê hoạt động bí mật ngay sát kinh thành Thăng Long. Có lẽ vì phải đối phó với mối đe dọa này mà Lý Thường Kiệt đã quyết định “Đại Việt ..chủ động nghị hòa” . Quân Tống lúc đó đã hoang mang cực độ, "Quỳ muốn rút quân về, sợ giặc tập kích bèn bắt quân khởi hành ban đêm, hàng ngũ không được chỉnh tề, tình hình hỗn loạn, giày xéo lên nhau”, nên chúng đã rất ngạc nhiên khi sứ thần Đại Việt là Kiều Văn Ứng báo tin cho Quách Quỳ biết “vua Lý sẽ sai sứ sang xin tạ tội..”. Sứ thần nhà Tống lúc đó là Trình Di và Trình Hạo đã thở phào rằng "May được lời giặc nói nhũn, liền nhân đó giảng hòa. Nếu không có lời quy thuận của giặc thì lành thế nào?". Vậy là nhà Lý đã xem lực lượng của Hậu duệ nhà Tiền Lê ở khu vực đền Trương tướng quân mới là mối đe dọa lớn, nên đã cho dừng việc đuổi đánh quân Tống. Đó cũng là lúc hậu duệ nhà Tiền Lê không thể “náu tung tích, dấu họ tên” được nữa vì đã bộc lộ hết lực lượng của mình. Thế rồi các đội dân binh dần dần bị giải thể. Không ít trung thần của nhà Tiền Lê phải noi theo hai vị thần Trương Hống và Trương Hát mà tuẫn tiết, vì họ vẫn muốn “trung thành với vua cũ, thà chết không theo vua mới”. Đối chiếu với lịch sử nước ta thời bấy giờ thì thấy có một hiện tượng được ghi đột ngột trong các sách sử đó là vụ án hồ Dâm Đàm (Hồ Tây ngày nay). ĐVSKTT chép: “Bấy giờ (tháng 3 năm 1096, tức 19 năm sau trận Như Nguyệt) vua ra hồ Dâm Đàm, ngự trên thuyền nhỏ xem đánh cá. Chợt có mây mù nổi lên, trong đám mù nghe có tiếng thuyền bơi đến, tiếng mái chèo rào rào, vua lấy giáo 8


ném. Chốc lát mây mù tan, thấy trong thuyền có con hổ, mọi người sợ tái mặt, nói: "Việc nguy rồi!". Người đánh cá là Mạc Thận quăng lưới trùm lên con hổ, thì ra là Thái sư Lê Văn Thịnh. Vua nghĩ Thịnh là đại thần có công giúp đỡ, không nỡ giết, đày lên trại đầu Thao Giang... Trước đấy Lê Văn Thịnh có gia nô người nước Đại Lý có phép thuật kỳ lạ, cho nên mượn thuật ấy toan làm chuyện thí nghịch”. Vụ án trên đến nay vẫn còn là một câu hỏi lớn. Vào đúng thời gian này, những người còn sống sót của hậu duệ nhà Tiền Lê đã phải dấu tên đổi họ (náu tung tích, dấu họ tên), lui về ẩn nấp trong các đền miếu suốt dọc sông Cầu và sông Thương, hoặc nhờ bà con thân thích che chở. Tuy chưa tìm thấy nhân chứng vật chứng về sự liên quan giữa hậu duệ nhà Tiền Lê với vụ án hồ Dâm Đàm nhưng việc Thái sư Lê Văn Thịnh nuôi một “gia nô người nước Đại Lý” ở trong nhà thì rất có thể đó là “một kẻ phản loạn”, một người họ Lê đang trốn chạy tại chính nhà Thái sư họ Lê. Sau chiến thắng vang dội ở bờ sông Như Nguyệt cũng không thấy vua Lý Nhân Tông gia phong tước hiệu cho hai thần ở đền Trương tướng quân. Nội dung truyền thuyết về Trương Hống, Trương Hát cũng giống như câu truyện đương thời, đó là Lý Công Uẩn được vua Lê Đại Hành cưu mang, yêu mến đến mức gả con gái cả là Lê Thị Phất Ngân cho ông (28). Sau này nhà Tiền Lê cũng mất về tay nhà Lý giống như Triệu Việt Vương mất ngôi về tay Lý Phật Tử. Sự giãi bày của hai thần Trương Hống và Trương Hát trong các truyền thuyết chính là tâm sự của các trung thần nhà Tiền Lê ở khu vực ngã ba sông Cà Lồ, họ đã dấu họ đổi tên rồi mà vẫn bị truy đuổi. Đến thời Hậu Lê, vào năm 1554 NQSH lại xuất hiện trong “Truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt”, lần này truyền thuyết giới thiệu rõ ràng và đầy đủ hơn về trận đánh Tống năm 981. Nếu đối chiếu với thời điểm ra đời của truyện này ta thấy lúc bấy giờ nước ta đang bị chia thành Nam và Bắc triều. Khoảng năm 1551 ở vùng kiểm soát của nhà Mạc nổi lên một cuộc vận động noi gương danh tướng nhà Mạc là Lê Bá Ly (29) để bỏ nhà Mạc về với nhà Lê. Khi đó nhà Lê đang kiểm soát từ Thanh Hóa trở vào. Trong bối cảnh đó, các nhà nho thời bấy giờ đã cho phổ biến tập truyện Lĩnh Nam Chích Quái, trong đó có “Truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt”. Biết rằng ở làng Xà có đến 2 chi Lê Bá, họ là hậu duệ của vua Lê Đại Hành. Đến nay tuy chưa chứng minh được mối liên hệ giữa 2 chi Lê Bá ở làng Xà với ông tướng nhà Mạc tên là Lê Bá Ly, nhưng sự trùng lặp ngẫu nhiên về thời điểm lịch sử, nội dung của các truyền thuyết và những sự kiện đã xảy ra lúc bấy giờ như một sợi dây vô hình muốn kéo họ lại với nhau. Như vậy NQSH đã ra đời từ thời Lê Hoàn và gắn với cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất. Ban đầu chỉ là một bài thơ hay, dùng để kích động tinh thần tướng sĩ hăng hái chiến đấu đánh đuổi giặc ngoại xâm bảo vệ nền độc lập còn rất non trẻ. Truyền thuyết về hai vị thần Trương Hống 9


và Trương Hát đã xuất hiện sau đó, rồi được ghép với bài thơ NQSH để thu hút người nghe, có thể vào khoảng thời gian sau trận Như Nguyệt. Qua truyện này ta thấy vào khoảng thời gian đó đã có sự phân hóa trong nội bộ các thế lực phong kiến nước ta lúc bấy giờ. Quan điểm về độc lập dân tộc trở thành thước đo, phân biệt giữa chính và tà, trở thành công cụ để các thế lực lúc bấy giờ giành ảnh hưởng trong dân chúng và phê phán sai trái của chính quyền đương thời. Nhưng đến thời nhà Trần và Hậu Lê, NQSH lại được các chính quyền phong kiến chấp nhận và cho in trong các sách truyện, đó là năm 1329 và năm 1554. Dần dần bài thơ NQSH thuyết phục được cả các nhà sử học như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên cùng hàng loạt các nhà khoa bảng ở vùng Bắc Ninh (30) để được ghi vào trong quốc sử. Cùng thế hệ với các nhà khoa bảng nói trên, ở xã Như Nguyệt có tiến sỹ Nguyễn Quang Tán, sau này ông trở thành ông Tổ nghề ép dầu của làng Xà. Theo (16) sau khi đỗ tiến sĩ (1529) ông về vinh quy bái tổ và đã vào ngôi đình cổ có tên là Đình Mừng của làng Xà làm lễ. Theo các cụ trong làng này truyền lại, sở dĩ ngôi đình có tên như vậy là vì tại đây xưa kia sau khi đánh thắng quân Tống ở thành Bình Lỗ, nhà vua đã cho quân sĩ ăn mừng. Ông thương dân làng Xà nên sau 3 lần đi sứ sang Trung Hoa, ông đã học được nghề ép dầu và trở về dạy cho dân. Nhớ đến công ơn của ông nhân dân làng Xà đã đúc tượng và lập đền riêng để thờ ông, đến nay vẫn còn. NQSH đã đi qua chặng đường hơn 1000 năm, được các tầng lớp nhân dân ta tiếp thu và xem đó là chân lý, độc lập dân tộc sẽ đem lại hạnh phúc và no ấm cho mỗi người dân, nhưng muốn có độc lập thì “sông núi nước nam” phải do “vua nam ở”. Về sau tinh thần ấy luôn được các nhà nước phong kiến tiếp theo khai thác. Ngày nay trong sự nghiệp bảo vệ biên cương và hải đảo nhân dân ta cũng không thể thiếu “Nam quốc sơn hà”. Việc nhà thờ Họ Lê – Lục Chi được cấp bằng di tích lịch sử - văn hóa, một trong những công trình tồn tại song song với đền Trương tướng quân, là một ghi nhận gián tiếp về sự đóng góp bền bỉ của dòng họ này trong việc gìn giữ và lưu truyền bài thơ NQSH trong nhiều thế kỷ qua.

10


Hình 7: Đại diện Hội đồng Họ Lê Bắc Ninh Chúc mừng ông Lê Bá Duyệt, Trưởng Họ Lê Lục Chi

11


TÀI LIỆU THAM KHẢO (1) Thêm 11 di tích được xếp hạng. Nhà thờ họ Lê Lục Chi (thôn Đông, xã Tam Giang). http://baobacninh.com.vn/news_detail/75423/them-11-di-tich-duoc-xep-hang.html (2) Nam quốc sơn hà, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (3) Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển III, Nhà Lý, tập mộc bản 1697 (4) Hiệp định Paris 1973. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Chương I: Các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Điều 1, Khoản 1. (5) Dương Quang Luân: Nơi ra đời bài thơ “Thần” - Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Đại Việt, Bưu điện thành phố Đà nẵng, (6) Tướng quân Trương Hống, Trương Hát. Báo Bắc Ninh ngày 15/6/2007, Mục Bắc ninh xưa và nay. (7) Truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt. Lĩnh nam chích quái, năm 1554 (8) Lý Nam Đế. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (9) Nguyễn Vinh Phúc: Lê Đại Hành và Sóc Thiên Vương trong Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn, Nhà xuất bản Hà Nội 2006. (10) Nguyễn Đình Hưng: Phát hiện văn bản bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Báo văn hóa 1/2010. (11) Bình Lỗ. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. http://vi.wikipedia.org/wiki/BinhLo (12) Trận Như Nguyệt. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. (13) Trần Bá Chí: Bàn thêm về sự nghiệp cứu nước và hậu duệ của Lê Hoàn, Kỷ yếu hội thảo kỷ niệm 995 năm Thăng Long Hà Nội và 1000 năm ngày mất của danh nhân Lê Hoàn. 2005 (14) Lê Trung Tông. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (15) Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển I, Kỷ Nhà Lê, Trung Tông Hoàng Đế. (16) Lê Đăng Dần: Làng Xà quê ta. Hà nội 2005 (17) Gia phả họ Lê Đắc và nhà trưởng họ Lê Đắc Ảnh. 1990 (18) Gia phả “Lê tộc sinh hạ” do Hội đồng gia tộc của nhà Hậu Lê do Lê Viết Trừ chủ trì lập vào năm Thuận Thiên thứ ba (1430). (19) Hoàng Văn Lâu: Đi tìm địa chỉ Ngô Chân Lưu. Tạp chí Hán Nôm, số 1 (26) 1996). Tăng Thống Ngô Chân Lưu, được ban danh hiệu Khuông Việt đại sư năm 971, quê quán tại hương Cát Lợi, huyện Thường Lạc, sau là thôn Đoài xã Da Hạ, huyện Kim Hoa phủ Bắc Hà, nay là thôn Thụy Hương, xã Phú Cường, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. (20) Truyện Trương Hống, Trương Hát trong sách Việt điện u linh, năm 1329. (21) Nguyễn Thi Oanh. Về thời điểm ra đời của bài thơ NQSH. Tạp chí Hán Nôm. Số 1/2002 12


(22) Lê Phụ Trần (hay Lê Tần). Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (23) Trần Bình Trọng. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (24) Trần Minh Tông. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (25) Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chí: Chiến thắng Như Nguyệt . Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc. Nhà xuất bản Quân đội 2007. (26) Sự tích Thánh Tam Giang. Yên Phụ xã Linh thần sự tích. http://langyenphu.blogspot.com/2009/12/cac-vi-than-tho-o-lang-yen-phu.html (27) Chiến tranh Tống – Việt, 1075 – 1077. Mục Giảng hòa. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (28) Lê Thị Phất Ngân. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Khi Lý Thái Tổ quyết định dời đô, công chúa Lê Thị Phất Ngân đã xin ở lại để thờ phụng phần mộ của Vua Lê Đại Hành vì các anh của bà đều đã bị giết và bỏ trốn khỏi Hoa Lư. Cuối đời công chúa Phất Ngân tu hành tại chùa Duyên Ninh và khuyên dạy cho nhiều đôi lứa nên chùa Duyên Ninh trở thành ngôi chùa cầu duyên từ đó.(Theo bài “Vua Lý Thái Tổ là con rể vua Lê Đại Hành” .Nguồn tin: bee.net.vn). (29) Lê Bá Ly. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (30) Lâm Giang. Văn bia văn chỉ Yên Phụ Văn phái huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

13

Profile for Chỉnh Lê Đắc

Nơi bắt đầu của huyền thoại nam quốc sơn hà  

Nơi bắt đầu của huyền thoại nam quốc sơn hà  

Profile for chnhledc
Advertisement

Recommendations could not be loaded

Recommendations could not be loaded

Recommendations could not be loaded

Recommendations could not be loaded